Tuesday, October 21, 2025

SỢ HÃI

Hình bên dưới không rõ chụp đúng ngày 2 tháng 9 hay không, nhưng hình ảnh khiến tôi hình dung ra nỗi sợ hãi đã một thời đeo bám tuổi thơ mình.


Trước 1960, quê tôi không có điện. Bóng tối là nỗi sợ hãi bao trùm, không chỉ cho lũ trẻ, chẳng dám ra khỏi nhà ban đêm, mà cho cả người lớn, bằng những câu chuyện về...ma trong những đêm tối trời.

 Làng tôi có một trạm xá, làm bằng tranh tre, phục vụ cho gần nửa số làng trong xã, xây trên nền ngôi chùa cũ bị đốt năm 1946 tiêu thổ kháng chiến. Ma hiện ra. Hàng trăm người hiếu kỳ đến xem. Có lần, mới mở cửa vào, mấy chị y tá thét lớn, khi phát hiện trên bàn làm việc là chiếc ghế dựa, trên có 1 khối đá to, trùm bên ngoài là chiếc áo blouse trắng và một nải chuối cùng nhang bên cạnh.  Chính quyền địa phương cố gắng dẹp nhiều lần nhưng bà con vẫn nườm nượp đến xem. Có người đang chăm chăm nhìn lên nóc nhà tranh trạm xá xem có...con ma nào ở chỗ tôi tối đó không thì bị ngay một cục bùn ném vào mặt, hốt hoảng la toáng, những người khác ùn ùn bỏ chạy, cũng hốt hoảng không kém. Chung quanh trạm xá không có ao để lấy cục đất bùn mềm nhão màu đen xám, chỉ cách đó nửa cây số mới có loại đất này dưới bàu, dân làng gọi là bàu Nhuốc. Đích thị có ma rồi !

 Chiến tranh nổ ra, câu chuyện "trạm xá có ma" vẫn được nhắc tới như nỗi kinh hoàng cho những người như tôi mỗi khi nói chuyện về quê nhà. Sau 1975, "trạm xá có ma" mới được giải mã: các bác du kích lão làng nói lại, họ đã biến trạm xá có ma để ít ai lai vãng ban đêm qua đó, nơi họ hoạt động, nơi họ hay hội họp để " làm cách mạng" giải phóng miền Nam.  Nỗi sợ hãi không còn vì đã hiểu ra sự việc.

Xưa nói nay. Đất nước so với năm 1960 đã khác biệt rất nhiều. Không có "ma" nhưng nỗi sợ hãi vẫn còn. Dân chúng vẫn còn sợ hãi nhà chức trách.

 Trước 1975, dân không sợ chính quyền, ở Sài Gòn và một số thành phố, thỉnh thoảng họ xuống đường, "đả đảo Thiệu- Kỳ - Có" (ba ông tam trụ, quyền hành như tứ trụ bây giờ),nhiều nhất ở tầng lớp sinh viên, hở chút là biểu tình, "Mỹ cút về nước", "đảo đảo Nguyễn Văn Thiệu độc diễn bầu cử"( ứng cử chỉ một người, không rõ hồi đó có ai...cơ cấu như bây giờ cho ổng không), " đả đảo luật tổng động viên 1972". "Phản động" thế nhưng cũng không ai, hoặc rất ít ai bị nhốt tù, trừ khi phát hiện là cộng sản.

 Bây giờ trong các cuộc " tụ tập đông người trái phép" không thấy có mặt sinh viên, tầng lớp trí thức tương lai nước nhà.  Có lẽ họ sợ hãi ...quá chăng?  Nhưng cũng có vài phụ nữ không sợ hãi, tay không một tấc sắt, mà dám âm mưu " lật đổ chính quyền", và bị bỏ tù. Nhưng những người như họ rất ít.

 Và nhà chức trách có..."sợ" dân không? Tôi cũng phải nghĩ ngợi nhiều.  Có những biến động lớn, như hôm 10 tháng 6 (biểu tình phản đối thông qua luật đặc khu), nhà chức trách cũng bối rối trong đối phó lúc ban đầu. Hàng chục cảnh sát cơ động ở Phan Thiết đã "cởi giáp", không mạnh tay trấn áp biểu tình, tôi nghĩ không phải họ sợ dân, mà có thể đã...một phần hiểu dân, ngoài một số lợi dụng biểu tình để đập phá, còn những người họ muốn trấn áp, có thể là người thân, hoặc những đồng bào của mình, đã chất chứa những ẩn ức chưa tỏ bày, nhân cuộc phản ứng trước dự luật đặc khu, nên đã "bùng phát" theo.

Nỗi sợ hãi nhau từ hai phía, người dân và nhà chức trách đều không tốt, nếu không nói là rất có hại. Cần có sự cảm thông nhau, cần sự hiểu biết nhau, nhất là cần niềm tin vào nhau, đất nước sẽ vững mạnh, đoàn kết, một lòng một dạ, dốc toàn lực để đối phó những đe dọa từ bên ngoài trong thời điểm có thể nói đầy bất trắc hiện nay.
Khi đã hiểu, nghĩa là đã được "khai trí", cả dân lẫn quan, thì nỗi sợ hãi nhau không còn, cũng như tôi, khi được nghe kể " ma trạm xá" không có, tôi không còn sợ hãi nữa.
Đã hiểu thì hết sợ.

MỐI TÌNH CÂM

Tình câm ở đây không phải là không nói nhưng là “không nói được” vì có dám thổ lộ đâu, dù có biết bao là dịp may, tất cả đều bỏ lỡ. Năm mươi năm nay, mới dám nói ra, cho lòng mình thêm nhẹ. Tình câm cũng còn là đơn phương, một phía, âm thầm cả một thời trai trẻ. Đó là câu truyện “tình” tôi sắp kể. Cũng như bao mối tình khác, tình yêu thơ mộng nhất là lúc mới “chập chững” yêu.

“Làm sao định nghĩa được tình yêu
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều.
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu”.

Người yêu của tôi ở tuổi 16 (lưu ý là người tôi yêu, không phải người yêu tôi), tuổi đã khiến Nguyễn Trãi lịch lãm cũng phải lòng cô bán chiếu “xuân xanh nay độ trăng tròn lẻ”. Tuổi mộng mơ. Nàng (về sau tôi viết tắt là N, chớ không phải ngọng đọc thành L, đâu nghe) có mái tóc xanh, buông dài tận eo, hơi sóng sánh theo bước nàng đi. Gương mặt phúc hậu với nước da trắng mịn, không phải nguyệt thẹn hoa nhường, nhưng hiền hòa thùy mị và rất là đoan trang. Nàng đẹp nhất khi cười. Có lẽ thượng đế phú cho những phụ nữ đáng yêu như thế xuống trần để ban cho những thằng đàn ông “tục lụy” chúng ta những phút giây hạnh phúc bằng những nụ cười như cả mùa xuân của họ. Nói tóm lại, với tôi, N là “người trong mộng”.

 Điều ngẫu nhiên thú vị, thập niên 60, tôi cùng ở nhà với N. Cùng ở nghĩa là gia đình chúng tôi thuê một phần căn villa rất nhiều phòng, trong một khuôn vườn rộng rãi, nhiều cây ăn trái, do chiến tranh, nhà nàng cần san sẻ bớt chỗ ở quá rộng để thêm thu nhập trong thời buổi khó khăn thời ly loạn.

 May mắn, tôi và N cùng học ngang lớp, không chung lớp chỉ chung trường. Những buổi đi học, tôi hay bắt chước chàng trai trong “Ngày xưa Hoàng thị…”, “gót giày lặng lẽ…” để nhìn “tà áo vờn bay, vờn bay…”
Nhưng “may mắn hơn”, vì là villa hồi xưa, buồng tắm và nhà vệ sinh chỉ có một. Ở riêng những phòng khác nhau, nhưng lại dùng chung… “ngôi nhà tâm sự”.

 “Nhà nàng” ở cạnh “nhà tôi”, nhưng không phải cách nhau “cái dậu mồng tơi xanh rờn” mà là cánh cửa lù lù duy nhất, rất “kiên cố”, vì tôi có muốn “dòm” qua nhà để ngó nàng cũng mù…trời đông, dù hằng ngày luôn luôn trông mong được “thấy” N, cho thỏa lòng ao ước.

 Lúc đó tôi rất khờ, lại không có đồng hồ. Chứ nếu khôn một chút như bây giờ, tôi sẽ “canh” giờ nàng đi tắm, hay đi vệ sinh, và tha hồ, núp vào chỗ nào kín đáo mà ngắm nàng đi qua… “cho thỏa tâm tình mơ ước bấy lâu".
Một dịp may đã đến. Tôi và thằng bạn ở cùng (nay đang hướng dẫn nghiên cứu sinh thạc sĩ ở SG) thoáng thấy N bước qua, tay cầm áo quần, khăn tắm,và may mắn hơn, nàng không phát hiện chúng tôi… “phục kích” ở phòng gần đó.

Khi nghe tiếng nước bắt đầu chảy róc rách, chúng tôi nháy mắt về chiếc ghế dài bằng gỗ ngồi ăn cơm, nhẹ nhàng mang ngay lại cửa buồng tắm, và cũng nhẹ nhàng dựng lên, cài ngay vào thanh sắt làm tay kéo cánh cửa.
“Âm mưu” chúng tôi là vừa “khóa cửa”, vừa có thế trèo lên…Bên trên cánh cửa gần trần nhà có một ô thông gió gắn bằng những miếng “lam” xi măng. Từ “cửa sổ” này chắc là sẽ thấy được…thiên đường. Tôi là người háo hức hơn, bạn tôi "nhường" tôi…leo trước.

 Ầm…Rầm.

Một tiếng động khủng khiếp vang lên. Hồi hộp và bất cẩn, tôi ngã kềnh ra nền nhà, trước khi “đáp” xuống vai thằng bạn, rất đau nhưng cũng cắn răng chịu, vì quá hoảng sợ. Hai đứa chúng tôi vội vàng bỏ chạy. Sau lưng vẫn nghe tiếng la ơi ới của N trong phòng tắm. Chúng tôi quên “gỡ” cái ghế ra khỏi tay cầm cánh cửa. N đang la lối vì không mở được. Mẹ nàng sau đó mở cửa lớn bên nhà chạy qua, "cứu" nàng ra.
Và, lần này thì hết…may mắn. Tôi và người bạn cũng là cháu ruột anh tôi, bị một trận đòn thừa sống thiếu chết, vì mẹ N qua tận nhà “báo cáo” sự việc động trời kia cho anh tôi khi vừa đi làm về.

Sau này, tôi mới nghiệm ra, mấy chục năm tuổi thanh xuân, không tìm ra nổi “mối tình rách lận lưng” cũng vì không biết…tán gái, mà lại tán theo lối trời ơi như thế. Và cũng thật…con nít, khi sau này phát hiện cửa thông gió trên buồng tắm có mấy thanh xi măng kia, gắn chếch lên trên, dẫu có "dòm rớt kiếng" cũng không sao thấy...bên dưới, huống hồ chi thấy được "thiên đường".

Một lần khác, “thiên bất dung gian”,  mấy ngày cận Tết, lúc đó có đốt pháo, nhà N mua ở đâu về một con heo cỏ. Ở thành phố, tìm ra một con heo ăn tết cũng là kỳ công.  A, dịp may thứ nhì đã đến. Sẽ có dịp…nhìn thấy N mỗi ngày ba bận, nhờ nàng được mẹ giao nhiệm vụ đi cho…heo ăn.

 Một cái cũi gỗ bên trong là chú heo con, suốt ngày kêu in ỉn, đặt gần cửa sổ phòng chúng tôi, ngoài hông nhà. Nếu không phải đến trường, tôi sẽ có dịp…nhìn nàng mỗi ngày khi nàng …cho heo ăn, ôi, hạnh phúc biết là ngần nào.

 Những ngày giáp tết năm ấy sao mà ngắn ngủi, chỉ được vài hôm là đến chiều 30, tôi không thấy N nữa, heo đã đi theo lên bàn tiệc tất niên nhà nàng. Phải chi 365 ngày nữa hãy tết, tôi thầm ao ước, một năm…được nhìn thấy nàng mỗi ngày như thế. Tôi quên kể câu chuyện trước đó, như thế này.

Muốn gây chú ý đối với nàng, vì quá yêu, tôi làm cái việc mức độ lần này còn cao hơn mù quáng.  Tiếng nổ là được chú ý nhất. (Bây giờ, muốn ai chú ý thì mình cứ mặc sức “nổ”). Tôi lấy 1 quả pháo quấn thêm giấy bên ngoài, tìm thuốc cháy chậm trét vào tim pháo, đặng có thể “biến” trước khi pháo nổ, và sẽ gây… “chấn động” khi nàng mang thức ăn ra cho chú heo con đáng mến. Và “phủi tay” chối trách nhiệm nếu N có mét mẹ, vì sẽ không rõ ai là “tác giả”.

 Không may cho đầu óc khoa học của tôi.  Tim pháo bôi thêm chất cháy chậm không phát huy, vì chất gây nổ đã rũ sạch vẫn còn hiệu quả hơn. Nàng vừa tới là pháo vừa nổ. Tôi cúi người núp xuống cửa sổ vẫn nghe N la thất thanh, gần như khóc vì hoảng sợ.

Không biết nàng thương tôi, đã một lần ăn trận đòn chí tử hay sao, hậu quả trái pháo…mất dạy kia không đến. N đã không mét với mẹ nàng.
Hai sự kiện “tỏ tình” hiếm có kia qua đi như... bóng câu qua cửa sổ. Nàng có lẽ coi tôi như…con nít nên cũng chẳng trách cứ gì, theo tôi đoán, bởi sau đó mỗi lần đi học, nếu nhìn thấy tôi, nàng cũng nở nụ cười nền nã, đôi mắt đen bao dung, trời ơi, đầy tha thứ.

 Được 2 năm, anh tôi mất vì chiến trận, tôi không còn ở trọ nhà nàng nữa.
Tôi rất đau khổ khi đi khỏi nơi mà gần 2 năm đầy yêu thương quyến luyến.

Lúc đậu tú tài, chuẩn bị vào Sài Gòn, tôi quyết định…tỏ tình Lần này sẽ không “bá đạo” như hai lần trước.

Tôi viết bức thư tình tha thiết dài 6 trang giấy học trò, chữ vốn đẹp, càng đẹp hơn khi tôi cố nắn nót, bức thư… “định mệnh” mà.

Tôi mất ngủ mấy hôm vì không suy nghĩ ra cách nào để đưa bức "thư tình thế kỷ" này đến tay nàng. Và, chuyện gì đến, sẽ đến. Tôi đứng đầu đường dẫn đến nhà nàng, hồi xưa rất vắng vẻ, sau khi quan sát thử có ai…theo dõi mình không, vì tôi rất nhút nhát, đưa thư cho một cô gái, nhỡ cổ không nhận, lại có người thấy thì ê chề biết mấy, chỗ đâu độn thổ.

Trên con đường vắng vẻ đó, hai  bên là những dãy ao rau muống, bảy cây dừa đứng bên lề khe khẽ lay động những tàu lá, có lẽ đang khúc khích cười chàng thư sinh sắp thực hiện một sứ mạng vô cùng trọng đại của một bước tiến vô cùng gan dạ: tỏ tình bằng thư. Tôi thầm thì bài hát “Ngày xưa Hoàng thị”… Gót giầy lặng lẽ…

Tim tôi như muốn ngừng đập. Đã đến cây dừa thứ bảy, N sẽ rẽ hướng mà bức thư nặng như chì vẫn nằm ngoan cố trong bàn tay tê cứng của tôi.
Không lẽ đợi đến cây dừa thứ tám (vì chỉ có bảy cây thôi), tôi nhanh chân vượt lên kịp nàng. Thu hết can đảm đưa bức thư “quái ác” kia ra, và không kịp nói lời nào, tôi vội vã bước đi, như ma đuổi, nụ cười đầy…“thương hại” chàng si tình của nàng lúc đó vẫn đeo đuổi tôi…cho đến ngày hôm nay, hơn 50 năm.

Gần đây, tôi liên lạc được với nàng, qua tin nhắn. Tôi có nhắc lại tấm tình của tôi với nàng, nhưng qua ý nghĩa những chữ trả lời của giòng tin nhắn, tôi vẫn hình dung được nụ cười…"thương hại tôi" của nàng năm xưa.

Và các bạn sẽ không ngạc nhiên khi tôi nói điều này: hơn nửa thế kỷ, từ thời tôi thầm yêu nàng, chưa bao giờ tôi nghe nàng nói, hay nàng nghe tôi nói, những câu giao tế thông thường, ngoài nụ cười của nhau, dù bây giờ tôi có thể gọi điện cho nàng, và nàng gọi điện cho tôi, không vì ngại giọng hai người không trong trẻo cùng năm tháng, tôi vẫn không muốn cất lên tiếng nào, nhưng chúng tôi, thật ra là đối với tôi, muốn đó là mối tình câm đầy kỷ niệm tuổi học trò.

 

THẠC SĨ XE ÔM

Đó là chức danh tôi gọi một tài xế xe Grab tốt nghiệp thạc sĩ đã chở tôi đi một quãng đường ở Sài Gòn. Chức "thạc sĩ" này không oai phong bằng chức tôi thấy khi có việc vào phòng một cán bộ, ghi trên tấm bảng đặt trang trọng ở bàn làm việc: “Thạc sĩ Chủ tịch huyện…”

Thạc sĩ là một bằng cấp, không phải là một chức tước. Chính vì không nghĩ như thế, ta đang chứng kiến cảnh nhiều thầy thiếu thợ, vì ai cũng chạy theo bằng cấp và không theo thực học.

 Thống kê có 215 ngàn sinh viên tốt nghiệp hằng năm không tìm được việc làm, hoặc có việc không vừa ý, như chạy xe ôm Chúng ta chì chiết ngành giáo dục, lên án họ thất bại trong việc đào tạo nhân lực có học cho đất nước nhưng không tự trách mình, những phụ huynh đã đóng góp không ít cho thảm trạng thừa thầy thiếu thợ.

Từ xưa, ông bà ta đã quý trọng thi cử. Làm quan chỉ nhờ học, nhờ thi đỗ. Xã hội phong kiến tiến bộ hơn chúng ta rất nhiều: học rồi mới làm quan, ta làm quan rồi mới học, nên có cán bộ cao ngất ngưởng, mang bằng giáo sư, tiến sĩ sau vài năm lên chức.

Ông bà ta đã khôn ngoan khi chọn kẻ có học ra điều hành đất nước nhưng lại gieo trong đầu óc hậu thế "hạt giống" chúng ta “ươm” lệch lạc đi: học có bằng thật cao để ra làm quan nhằm “thay đổi” cuộc đời.

Sản xuất thời phong kiến chủ yếu là làm ruộng, trồng dâu nuôi tằtằm. Làm quan không những “cả làng” đều hưởng mà bản thân, gia đình đều vinh dự, “võng anh đi trước, võng nàng theo sau”, thậm chí “anh chưa thi đỗ thì chưa…động phòng”.

Thực dân Pháp có “thằng” nhận xét rất đúng: “Trong đầu óc của mỗi người An Nam đều có…một ông quan”.  Đất nước chúng ta đã mấy mươi năm thống nhất, hòa bình; chiến tranh tàn khốc đã qua đi, liệu trong đầu óc mọi người có còn “ông quan” kia không? Tôi e rằng, câu trả lời là có.

Con tôi là kỹ sư cơ khí có chuyên môn cao. Lúc thi vào đại học đỗ 3 trường, tôi rất băn khoăn, không biết chọn trường nào. Bạn tôi là giảng viên đại học khuyên khi tôi hỏi ý kiến. Cơ khí chế tạo máy là gợi ý của nó và Bách Khoa là trường nên học.

Tôi ngờ ngợ vì không rõ, học cơ khí có phải vác sắt, cầm cà lê, mỏ lết, dính dầu dính nhớt hay không, và con tôi mới 18 tuổi, hẳn cũng lo lắng như tôi, tôi và cháu chọn cái ngành cha con tôi e ngại hồi đó …bây giờ rất “hot”, đất nước đang công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tôi hãnh diện cháu đã tự chọn việc và chọn ngành, không phải việc hay ngành “chọn” cháu.

 Rõ ràng qua câu chuyện trên, tôi thấy gia đình là nhân tố quan trọng cho việc định hướng nghề nghiệp chứ không phải xã hội, cứ "cuốn theo chiều gió", thời thượng như hiện nay, ai cũng chăm chăm vào ngành công an, cảnh sát, số điểm cao chót vót mới được vào.

Xã hội, gia đình, và chính con em chúng ta, phải có trách nhiệm định hướng việc học hành cho tương lai. Nhưng trách nhiệm nặng nhất là…xã hội. Ở đây, ngắn gọn là giáo dục. Giáo dục cần làm cuộc cách mạng chứ không phải đổi mới, hay cải cách. Giáo dục phải làm sao thay đổi được nhận thức của người dân, học để thành người tốt, để kiếm cơm, để phụng sự bản thân, gia đình, rồi xã hội. Mục đích giáo dục không cần cao siêu, cao siêu quá rất dễ thành hoang tưởng.

Học không phải để có bằng cấp. Chính cái việc học để thi đua thành tích đã làm người dân không gột rửa đầu óc "một ông quan", và hiểu ra một lẽ đơn giản: học để làm việc hữu ích cho mình, cho xã hội. Nào lò luyện học sinh giỏi, nào thi quốc gia, nào thi quốc tế. Liệu những bằng cấp sáng chói quốc gia, những huy chương lấp lánh quốc tế, có giúp ích gì cho một đất nước, một nền giáo dục, hằng năm đào tạo ra hơn hai trăm ngàn sinh viên thất nghiệp?
Chúng ta chưa thể giao tự chủ hoàn toàn giáo dục đại học, các trường đại học trọng điểm chưa có đủ thời gian, chưa có đủ quyền hành, biến mình trở thành những đại học đẳng cấp khu vực (đã không nằm trong top 300 đại học châu Á, theo thống kê năm ngoái) thì tại sao ngành giáo dục không đặt ra những chuẩn mực chặt chẽ, khắc khe có tính khoa học, trong việc phân luồng học sinh theo năng khiếu, năng lực, từ lúc cắp sách lên cấp 3, (hay mới vào cấp 2 càng quý), giúp các em sớm biết trước khả năng của mình trong việc chọn lựa nghề nghiệp sau này, không phải ào ạt kéo vào đại học, cứ học là ra trường, trường đại học loại nào cũng có, cũng được, hiện đang như nấm, vừa mất thời gian quý báu, vừa tốn kém tiền của, công sức, của học sinh và phụ huynh, và của xã hội, để cuối cùng chính xã hội phải ca thán …giáo dục đã đào tạo những thạc sĩ, cử nhân chạy xe ôm?

Việc định hướng nghề nghiệp có lẽ tốn kém nhưng hẳn sẽ không tốn kém bằng…năm nào cũng “cải cách”, cũng in sách giáo khoa “sửa đổi” để “sửa” túi tiền còm cõi của phụ huynh.

Khi giáo dục giúp người học chọn lựa đúng nghề nghiệp theo năng lực, theo thiên hướng, đào tạo thầy ra thầy, thợ ra thợ, sự vinh danh của xã hội cho một thạc sĩ chạy xe ôm không khác thạc sĩ chủ tịch huyện, giáo dục sẽ thành công, sẽ giúp nước nhà cất đầu lên đi tới, chứ không phải chỉ mới “cải cách giáo khoa lớp 1”, cả nước nháo nhào hốt hoảng, lo sợ cho tương lai TIẾNG NƯỚC TÔI, cả nước tốn bao nhiêu công sức, thời gian và nước miếng để…chửi bới những “nhà cải cách”, mảnh văng tới tấp lên đầu ông giáo dục, lên tới cấp cao hơn nhưng nỗi lo cho nền giáo dục vẫn còn là nỗi lo canh cánh đối với mọi người dân.

TÔI YÊU TIẾNG NƯỚC TÔI

Thấy nhiệt kế chửi bới hạ xuống chút chút tui mới dám nói tý chút về...Cải cách tiếng Việt. Nhưng không nói bản chất, cái tui mù tịt, chỉ nói ...bên lề.
Nếu giáo dục cho phép nhiều bộ sách giáo khoa cho một chương trình (nghe nói sắp tới sẽ có, hay như VNCH đã làm) thì không ai cất công hao tổn ngôn từ, nhiệt huyết, đổ lên đầu người...cải cách, và giáo dục như mấy tuần nay.

Tôi muốn nói thái độ của chúng ta về một vấn đề: trước 1975 ở miền Nam, gọi là..."bề hội đồng", đánh tới tấp, đánh tá lả, không biết đánh có đúng đối tượng hay không, y như hồi cải cách ruộng đất, hễ nghe ai đó hô ...giết, giết, thì mình cũng hô...giết, mà không biết đã giết oan một số địa chủ yêu nước.
("Giết giết nữa, bàn tay không ngưng nghỉ/ Cho ruộng đồng mau tốt, thuế mau xong", thơ không rõ của ai )

Theo tôi tìm hiểu phương pháp giáo dục gọi là công nghệ giáo dục của ông Hồ Ngọc Đại đã đem về từ Liên Xô cũ, và LX cũng học từ nhà giáo dục thượng đẳng người Mỹ John Dewey. Chương trình này đã được áp dụng 1979, như vậy xét về lịch sử, đó là một...bước tiến chịu chơi, đã "dám " song hành với chương trình giáo dục cộng sản truyền thống. Có người bảo chương trình được sử dụng nhờ Hồ Ngọc Đại là con rể Lê Duẩn.

Không hẳn như thế. Sau này khi ảnh hưởng vị tổng bí thư quyền thế không còn, chương trình vẫn được áp dụng, ngay cả mới đây. Như vậy, nó cũng có cái hay, cái lạ của nó chớ, không lẽ là “tào lao xịt bợp”.

 Cũng vì quá yêu Tiếng Nước Tôi, nên hễ ai chạm vào niềm thiêng liêng ấy là bị...phang ngay, dù chưa tìm rõ nguyên do, cội nguồn, phang đúng hay phang nhầm, thấy họ phang, mình cũng phang... Phang Bùi Hiền là đúng. Ông ta muốn biến tiếng Việt thành thứ tiếng như tiếng...nước lạ, rất kỳ cục, rất quái gở, nhưng phang luôn Hồ Ngọc Đại thì tôi thấy phang...bất nhẫn quá.
Người ta vin vào vài câu phát biểu tức tối, đốp chát, của ông ta (có thể thông cảm) khi bị vùi dập để phang mà không nhìn nhận công trình ông ta đem lại cho giáo dục, bằng sự "song hành" chương trình chính thống từ trước, nói rộng ra, ông ta đã..."đa nguyên", không khen thì chớ mà còn lớn tiếng bbỉ bôi.  Người ta quên rằng cộng tác với Hồ Ngọc Đại có nhà giáo Phạm Toàn đáng kính, người luôn đau đáu cho nền giáo dục VN.

Kết thúc câu chuyện, tôi xin kể 1 câu chuyện...Tàu (xưa, hổng phải nay).
Khổng Tử rất yêu Nhan Hồi, một học trò cưng. Tục lệ Trung Hoa cổ là nấu cơm xong, bới ra 1 ít trong chén để cúng, sau đó mới ăn, không ai được phép ăn trước. Khổng Tử đang dạy, Nhan Hồi đang thổi cơm, xa xa ngoài vườn. Ông  liếc thấy học trò mở nắp vung, lấy đũa gạt lớp cơm trên nồi và cho vào miệng. Ông rất tức giận, định bụng dạy xong, lúc vào ăn sẽ quở trách thằng học trò lếu láo, ăn hỗn kia.

 Và đúng là như vậy, lúc ăn cơm. Nghe những lời quở trách của thầy, trò điềm tĩnh trả lời. "Thưa thầy, con thổi lửa mạnh quá, tro bay vô nồi cơm. Bỏ đi thì mang tội, nên con đã ăn chỗ cơm dính đầy tro đó".

 Khổng Tử ngừng ăn, than: "Những việc ta thấy rành rành trước mắt mà không đúng, huống hồ việc ta không thấy". Những ai muốn chửi Hồ Ngọc Đại hãy lại gần ông ta một tý, đặng thấy cho rõ, chứ Khổng Tử, vạn thế sư biểu, cũng còn "sai" nữa, huống hồ chúng ta.

(Tôi nghe chửi Hồ Ngọc Đại quá nhiều, nay thôi, đừng chửi ổng ở đây)

 

"ĐẢNG TA ĐÓ, TRĂM TAY NGHÌN MẮT"

Đây là một trong các câu thơ nồng nàn tình yêu đảng của nhà thơ Tố Hữu viết năm 1960 trong bài thơ tựa đề "Ba mươi năm đời ta có Đảng". Tôi không đi sâu phân tích nội dung bài thơ bởi lẽ nói về Tố Hữu rất khó vì trong quá khứ và lúc làm phó thủ tướng trước 1986 ông là người chịu nhiều điều tiếng, bị nhiều phê phán nặng nề về chủ trương...giá, lương, tiền trước thời "đổi mới". Ở đây tôi muốn nhấn mạnh ở điểm "trăm tay, nghìn mắt". Mà "nghìn mắt" là chính.

 Ước lệ câu thơ của tác giả là đảng của ông rất sáng suốt, rất thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, nếu không, làm sao đã dẫn dắt đất nước thắng lợi trong những cuộc chiến tranh đánh nhau với thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và sau này là bành trướng Bắc Kinh.

Nhưng hiện nay, những người trong đảng, trong cán bộ lãnh đạo, từ cơ sở đến trung ương, họ có "trăm tay, nghìn mắt" tất cả không, nghĩa là họ luôn luôn thấu hiểu lòng dân, luôn luôn tôn trọng ý muốn và nguyện vọng của dân, như những vị tiền bối của họ đã thực hiện trong quá khứ? Tôi thẳng thắn nói rằng, còn một số người không giống được các vị tiền bối cộng sản.  Một số vẫn chưa gần gũi, chưa sâu sát nhân dân.Vẫn còn nhiều khiếu kiện chất chồng, nhất là về đất đai, bị đùn đẩy lên trên.

 Ngay cả bây giờ, thời đại internet, mỗi cán bộ phường, xã, chưa nói cấp cao hơn, đều có thể tiếp cận, thành thạo vi tính, các mạng xã hội, tại sao họ không được phép(?) tham gia chúng công khai, đầy đủ, để hằng ngày, hằng giờ, bất kỳ ý kiến nào phản ánh của người dân vào trang cá nhân của họ đều được lưu ý và trả lời ngay, hay giải quyết ngay nếu có thể?

 Ngay cả các tổng thống cường quốc như Putin hay Trump đều có tham gia mạng xã hội, nhất là Trump, đôi ba ngày là "tuýt", cả thế giới đôi lúc té ngửa với những dòng ngắn gọn trên twitter của ông ta, không cần phải đợi đến những buổi họp hành hoành tráng sặc sỡ cờ hoa.

Sự cảm thông sẽ có hiệu quả lan tỏa tức thì nếu những thắc mắc hay những vấn đề người dân nêu ra cho cán bộ lãnh đạo, hay cán bộ hữu quan được giải quyết kịp thời chỉ bằng một cái nhấp chuột trên máy vi tính.
Nếu bận rộn công việc quá nhiều thì có nhân viên phụ tá thay mình giải đáp hay phân loại những vấn đề người dân đưa ra cho mình giải quyết vào một thời gian thích hợp, hay cần, sắp xếp một cuộc hẹn với dân nếu có thể.

 Sẽ không có những bất mãn, những bức xúc kéo dài, nếu người dân và chính quyền có tương tác nhanh nhạy, kịp thời như thế, thiết tưởng những khiếu kiện như về đất đai kéo dài sẽ không phải là những vấn đề nóng bỏng có dịp là bùng vỡ như đã thấy.

Trước đây độ hơn 10 năm, các cấp thôn, xã, huyện đều có hộp thư góp ý. Nay, không thấy còn, hay còn mà ít, tôi không rõ, nhưng rõ ràng chính quyền cũng quan tâm ý dân thực sự. Nay, inbox đầy rẫy. Facebook có mà tràn lan. Hộp thư điện tử gọn, nhanh, riêng tư, kể cả chụp được đơn, thư, giấy tờ, cán bộ hữu quan chỉ cần lấy ra mà xem xét, cần chi mở những phòng tiếp dân cho tốn kém người, tốn kém tiền, tốn kém thời gian, hiệu quả không như mong muốn của chính người dân lẫn nhà chức trách.
Ông thủ tướng trăm công nghìn việc không phải...chỉ đạo cấp dưới những việc đại loại "đã có ý kiến của thủ tướng" về cái nọ cái kia thuộc thẩm quyền của cấp dưới giải quyết, không đợi phải chờ hay đùn đẩy lên cấp trên.

 Chính phủ điện tử nghe đâu đã triển khai.  Điều tôi nói ở trên có nằm trong hàng triệu việc quan trọng của chính phủ điện tử trong tương lai hay không, tôi không được rõ. Mong ước của Tố Hữu " Đảng ta đó, trăm tay nghìn mắt" là có cơ sở, không phải nói suông?

MỲ QUẢNG VÀ MỲ QUOẢNG, MỲ NÀO NGON HƠN.

Năm 1972, tôi thi vào trường Đại học Sư phạm Sài Gòn, ban Anh văn, ngành huấn luyện “giáo sư” trung học đệ nhị cấp (giáo viên cấp 3). Toàn tỉnh Quảng Nam, đúng hơn, toàn trường Trần Quí Cáp Hội An, chỉ có tôi và bạn Nguyễn Thị Thanh Tú, đỗ vào ngôi trường đào tạo giáo viên tiếng Anh cấp 3 duy nhất ở miền Nam (Bắc, Trung, Nam). Cô Tú sau đó được học bổng du học Úc, chỉ còn tôi ở lại trường Sư phạm. Hãnh diện ghê lắm, lương công chức khi tốt nghiệp còn cao hơn lương phó quận trưởng.

Nhưng trong lòng không hãnh diện nổi về… “giọng” Quảng Nam của tôi. “En không en, tét đèn đi ngủ” hay “con chó lớn kén con chó nhỏ nhen reng” (Ăn không ăn, tắt đèn đi ngủ; con chó lớn cắn chó con nhỏ nhăn răng). Những bạn học Nam bộ đã chế giễu tôi, người Quảng Nam duy nhất trong lớp. “Chửi cha không bằng pha tiếng. “Tức điên người”, giờ ta hay nói tức “hôi họng” (hôi họng là ăn hổng được vì quá tức). Thêm thay, giáo sư ngữ học Đàm Trung Pháp còn chế giễu tôi, khi phân tích ngữ âm học.

Ông ví dụ: to shop, mua sắm, các em phát âm như tiếng “sốp” Quảng Nam. Ông ví dụ bằng câu chuyện kể, lúc học tiến sĩ ở Mỹ về, bị gọi vô trường Trừ bị Quốc gia Thủ Đức, 12 tháng học quân sự, trước khi được dạy đại học. “Phốp, Phốp, lấy cho tô cây đèn sốp” – bạn quân ngũ người Quảng gọi ông (Pháp, Pháp, lấy cho tao cây đèn sáp – đèn cầy, đèn bạch lạp). To shop, các em phát âm như giọng Quảng Nam này nhé. Không hiểu có ý giễu cợt tôi không, nhưng tôi rất giận thầy, nên môn trong linguistics của ông tôi luôn dưới điểm C (cho điểm kiểu Mỹ).

Tôi muốn quay lại: Mì Quảng hay mì Quoảng, mì nào ngon hơn? Khi đi khắp các con phố Sài Gòn, nhan nhản tên quán Mì Quảng, mặc cảm giọng Quảng của tôi thời sinh viên vào Nam từ đây “mất sạch”. Dân Sài Gòn đã công nhận đặc sản món ăn xuất xứ từ Quảng Nam, Mì Quảng của quê hương tôi. Phải ngon, phải đặc biệt, tên Mì Quảng mới ngang nhiên nằm chễm chệ trên nóc các nhà ở phố, ngang ngửa các tên tuổi gạo cội của ẩm thực Việt Nam nổi tiếng từ lâu: Bún bò Huế, Hủ tiếu Nam Vang, phở Hà Nội… Hãnh diện lắm chớ, Mì Quảng. Xin khẳng định, không được tranh cãi nghe, Mì Quảng là của Quảng Nam.

Xin đừng có nhầm lẫn từ Quảng, vì có “một dọc” tỉnh bắt đầu bằng Quảng: Quảng Ngãi, Quảng Tín (VNCH), Quảng Bình, Quảng Trị, có “ông” Quảng Ninh nữa. Khi đọc lịch sử Đàng Trong, nhiều người bắt gặp chữ “Quảng Nam quốc”, các giáo sĩ phương Tây tưởng từ Quảng Nam trở vào là một nước. “Bé cái nhầm” nhưng cái nhầm này nói lên địa danh ấn tượng nhất của người phương Tây với cái tên Quảng Nam. Thanh Chiêm một thời là thủ phủ “Quảng Nam quốc”, gần Thanh Hà, Hội An, nơi tàu bè nước ngoài coi như thương cảng một thời sầm uất. Thanh Chiêm, món mì Quảng có lẽ xuất phát từ đây.

May là tôi ở Sài Gòn, chứ còn ở Quảng Nam, chắc chắn sẽ bị “trói” lại vì dám nói Mì Quảng xuất phát từ Thanh Chiêm, một địa danh nằm giữa Vĩnh Điện và Cầu Mống, giáp Cẩm Hà, Hội An. Tôi sẽ được “cởi trói” nếu “cãi thua” các đồng hương của mình. Mì Đại Lộc, Mì Quế Sơn, Mì Đức Dục, Mì Túy Loan, Mì Cẩm Lệ, Mì Vĩnh Điện… mới là “cái nôi” xuất phát Mì Quảng chớ? Xin thưa các anh chị, chúng tôi, những người Quảng không phải bỏ ra ba ngày, ba tháng, ba năm, mà ba chục năm, nếu còn khỏe, sẽ ba trăm năm cãi nhau xem địa phương nào mới đúng là cái nôi Mì Quảng. Tôi không bao giờ nói ngoa, quý vị nên nhớ: Quảng Nam hay cãi, không phải bây giờ mà hàng trăm năm trước, đã cãi, đang cãi, và sẽ cãi: Mì Quảng xuất phát từ địa phương nào của tỉnh Quảng Nam? Tôi sẽ nói: Thanh Chiêm, thủ phủ đầu tiên xứ Quảng, phủ Điện Bàn.

Trong đoàn khách được mời qua Tokyo để trình bày mối quan hệ giữa Hội An và người Nhật trong quá khứ, điển hình là di tích Chùa Cầu – dấu ấn kiến trúc Nhật Bản, người nấu Mì Quảng nổi tiếng ở Thanh Chiêm đã trình dọn Mì Quảng cho các nhà nghiên cứu về Việt Nam người Nhật thưởng thức. “Ngon, ngon quá hỉ”. Mấy ông “xứ sở mặt trời mọc” vừa ăn vừa thốt lên bằng tiếng Việt, “giọng” Quảng Nam. Nhật là xứ sở của tinh tế, của văn hóa thanh tao. Không ngon, họ sẽ không khen như thế.

Mì Thanh Chiêm có đặc trưng ít nước nhưn (dạng như nước lèo). Nước mì đậm đặc, hương vị chất phác, đậm đà và mộc mạc, như tính cách Quảng. Rau ghém gồm vỏ lụa non bên trong bẹ chuối hột (chuối chát) xắt mỏng, cải con (không nhiều, nhiều sẽ đắng, hăng), ngò rí, lá hành, vài cộng giá sống mập mũm mĩm, bắp chuối (hoa chuối) chát thái lụa (mỏng), và rau húng lủi. Mì thiếu rau húng lủi, không còn là mì. Sợi mì xắt to bản, hơi dày, bôi với dầu phụng khử hành thật thơm. Mì phải là mì gà mới ngon.

Có mì lươn, mì cá tràu (cá lóc, cá quả), mì ếch, mì cá nhét (giống cá kèo miền Nam nhưng ngắn, bụ bẫm, chắc thịt, màu vàng ươm), mì bò, mì ốc, mì cá biển… “Nhưn” mì biến đổi tùy theo chất liệu có sẵn, hoặc thuận tiện ở từng địa phương, vì mì xưa kia, đâu có mì nào cũng được làm bằng thịt gà… Gà rất hiếm. “Khách đến nhà không gà thời vịt”. Gà đặt cao một bực hơn vịt là rứa. Mì gà là thượng đẳng. Gà ngon phải là gà mái tơ.

Người cũng vậy, “con đực” không ngon bằng “con cái”. Con cái mẩy hơn, mơn mởn hơn, đầy đặn hơn, dầy dầy hơn (Nguyễn Du: Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên – ổng tả phụ nữ đang tắm đó). Gà cũng phải theo người, gà mái tơ, “nhưn” mì mới… tuyệt. Gà chặt miếng bằng dao thật sắc (tránh xương mẻ vỡ, ăn hóc xương), ướp hơn một tiếng bằng những gia vị (bí mật… chỉ phụ nữ người Quảng Nam mới được biết). Sau đó bỏ vào nước sôi, cho sôi thật lâu. Thịt gà ướp nấu lâu vẫn giữ hương vị đậm đà; khi gắp ăn thực khách vẫn nghĩ đây là thịt gà đầy hương vị, không phải như cục giò heo chặt khúc của bún bò Huế hay những miếng thịt bò của phở, chẳng dính dáng gì đến nước nhưn kèm theo, hoặc có dính dáng cũng không gắn bó, quấn quýt như miếng thịt gà với nước nhưn của món Mì Quảng. Ăn riêng miếng thịt gà, người ăn vẫn cảm nhận hương vị của nó như là hương vị của nước nhưn, không lỏng lẻo, lạ lẫm, xa cách.

Mì Quảng phải ăn với một ít đậu phộng rang “giã bể” bỏ lên trên (không giã nhỏ), “nêm” bằng nước giấm nuôi (không phải chanh), và bánh tráng nướng, bóp nhỏ (nhưng không quá vụn). Mì Quảng truyền thống không ăn bằng muỗng, chỉ bằng đũa, phải là đũa tre, khi ăn phải “lua và húp” (dùng đũa đưa mì vào miệng, húp nước kêu sồn sột). Trần Văn Khê, nhà văn hóa uyên bác đáng kính, cho biết khi ăn các món Á châu, ông không mời bạn người phương Tây đi cùng, vì họ ăn uống nhỏ nhẻ, từ tốn, không gây tiếng kêu như ta. Ông nói ăn bằng ngũ giác: nhìn, ngửi, nếm, sờ, mà thiếu nghe, âm thanh, món ăn chưa hẳn đã ngon. Ăn cần có âm thanh, điều cấm kỵ với người Tây. Như vậy, và đúng là như vậy, Mì Quảng “lua, húp” mới ngon (“nhà quê” quá hỉ).

“Ớt nào mà ớt chẳng cay/ Gái nào mà gái chẳng hay ghen chồng”. Ghen đem lại gia vị cho cuộc sống lứa đôi. Ăn mì mà không ớt (như vợ không ghen chồng) thì mì còn ý nghĩa chi đâu (ớt phải xanh, cay vừa, không cay xé). Một chén nước mắm nhỉ nguyên chất cho ai muốn mì có vị mặn mà hơn. Chớ bao giờ đâm tỏi cho vào nước mắm. Mùi tỏi sẽ là kẻ “thủ tiêu” mì Quảng.

Tả tỉ mỉ theo trí nhớ hay tưởng tượng như thế chắc chắn phải ngon đối với tôi, món mì Quảng, nhưng không hẳn đã ngon với người đọc bài này. Ngon hay không tùy khẩu vị mỗi người. Ngay một món trong gia đình nấu bởi người mẹ thân yêu đẻ ra mấy người con vẫn bị các con kẻ chê người khen huống hồ chi Mì Quảng, món ăn thường ở các quán, ở nhiều nơi, nhiều nước, ở nhiều thời điểm, làm bởi nhiều người, ngon nhất là điều không thể.

Nhưng điều này có thể: mì Quảng là “quốc hồn, quốc túy” của dân Quảng Nam, món ăn nghĩa tình mà ngon nhất (nghĩa tình: xưa, các dịp trọng đại như giỗ kỵ, ăn mừng con thi đỗ, tiễn con đi lính…, mì Quảng là món đãi chính). Mì Quảng này ông tổ tôi, ông cố tôi, ông nội tôi, ông cha tôi đã ăn, và tôi đang ăn, sẽ ăn, con cháu tôi cũng theo gương ông cha chúng, tiếp tục ăn mì Quảng. Một món ăn mà bao nhiêu thế hệ đã coi như hồn cốt trong người, món đó không ngon thì món nào ngon hơn Mì Quảng?

Mì Quảng có nhiều, nhưng nên ăn ở những quán người ta nói “Mì Quoảng” chứ không phải Mì Quảng. Ở đó mới có mì ngon. Vì ở đó có người Quảng Nam. Ăn và nghe giọng Quảng quê mình, giọng nói quê hương. Cái gì của quê mà không ngon đâu, hỉ.