KHAI PHÓNG
(Tâm tư của Cô Lê Bình, giáo viên Văn sau đêm trắng)
“Khai” khi chúng nó mở ra
“Phóng” là bắn mạnh xoà xoà từ trên
Vội vàng tay kéo xéc lên
Amoniac vang rền mùi khai.
….
“Khai” chi một lũ dạy đời
“Phóng” vào lịch sử những lời vô ơn
Giữ gìn bản sắc vẫn hơn
Văn hóa mà mất, Nước còn nổi không?
(Đêm trắng 20/6/2026)
Có một facebooker tên Nguyen Quang Thieu (không phải Nguyễn Quang Thiều, nhà thơ) viết: “Toàn thể Nhân Dân Việt Nam hãy đoàn kết, quyết tâm tẩy chay KHAI PHÓNG đối với Văn hóa Việt Nam và Giáo dục Việt Nam”. (Chép đúng nguyên văn).
Không hiểu KHAI PHÓNG có phải là tư tưởng của một tổ chức phản động, nhân dân cần phải “tẩy chay”? Và KHAI PHÓNG có phải là nước tiểu hôi hám và bẩn thỉu? (“Amoniac vang rền mùi khai”).
Với tôi, dân tộc ta muốn “sánh vai với cường quốc năm châu” (1), đất nước cần phải trân quý KHAI PHÓNG.
Nhưng KHAI PHÓNG là gì?
Định nghĩa có nhiều, nhưng theo tôi, khai phóng (hiểu như ngày nay) là tôn trọng sự khác biệt, không bị ràng buộc vì định kiến, luôn luôn học hỏi, sẵn sàng thay đổi khi có bằng chứng mới, và tư duy độc lập nhưng không cực đoan.
Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đặt Khai Phóng làm “triết lý” giáo dục (Dân tộc- Nhân bản- Khai phóng).
Khai phóng không phải là sản phẩm tư tưởng “lai căng” du nhập từ nước ngoài.
Tinh thần ( và tư tưởng) khai phóng xuất hiện rất sớm trong lịch sử nước nhà.
Vua Trần Nhân Tông cho đốt danh sách, không bắt tội, những người đầu hàng, câu kết với giặc sau khi kết thúc cuộc kháng chiến. Lẽ thông thường, những đối tượng ấy cần bị trừng trị để làm gương nhưng vị Phật hoàng ấy: Không muốn khơi lại hận thù sau chiến tranh. Tránh chia rẽ trong triều đình và trong nhân dân. Tạo điều kiện để những người từng lầm đường có cơ hội sửa đổi và cùng xây dựng đất nước.
Ở thế kỷ thứ 13 mà tư tưởng ấy vượt ra ngoài “phép nước”. Đó không phải là tinh thần khai phóng hay sao?
Chu Văn An là một ví dụ cho tinh thần khai phóng. Ông luôn luôn chính trực, dám nói lên điều đúng, lấy đạo đức làm gốc trong giáo dục, có trách nhiệm của người trí thức đối với đất nước, không khuất phục trước quyền lực.
(Theo wikipedia) "ông là người thầy của mọi thời đại, nhà giáo lỗi lạc của Việt Nam, đã dành cả cuộc đời cho sự nghiệp dạy học, với triết lý giáo dục nhân văn, không phân biệt giàu nghèo, học đi đôi với thực hành, học suốt đời để biết, để làm việc và cống hiến cho xã hội. Tư tưởng đó của ông không những có ảnh hưởng tới nhiều thế hệ người Việt Nam mà còn góp phần phát triển các giá trị nhân văn trong khu vực. Quan điểm giáo dục của ông có những giá trị tiến bộ vượt thời đại, gần gũi với mục đích giáo dục của thế giới hiện nay".
Triều nhà Nguyễn có thể không bị mất đất cho thực dân Pháp nếu cả triều đình Tự Đức nghe theo biểu tấu của Nguyễn Trường Tộ để canh tân đất nước. Trong suy nghĩ thông thường của những nhà Nho trí thức thời phong kiến, Trung Hoa là số một. Các thám hoa, bảng nhãn, tiến sĩ trong hàng ngũ quan lại (tôi chắc có người không biết bảng cửu chương) coi những điều trần của Nguyễn Trường Tộ là “lố bịch”, viển vông. Những đề nghị “khai phóng” của ông bị bỏ mặc: Tổ chức bộ máy nhà nước; phát triển kinh tế (chú trọng thương mại và công nghiệp); cải tổ quân đội, chế tạo vũ khí hiện đại; đổi mới giáo dục (chú trọng khoa học và kỹ thuật); mở rộng quan hệ với các nước để học hỏi tiến bộ.
Nhật Bản cùng hoàn cảnh như Việt Nam thời đó – coi Trung Hoa là thiên triều- nhưng nhờ có tư tưởng khai phóng, họ trở thành một nước phát triển: bởi sớm thoát Trung. Dù bị tan nát sau chiến tranh, chỉ cần hơn hai chục năm, họ có nền kinh tế mạnh thứ hai trên thế giới sau năm bại trận (1945). Nếu không có tinh thần khai phóng, chấp nhận đầu hàng nhục nhã trước kẻ thù, để một “tên mũi lõ” Douglas MacArthur “cai trị” nước mình một thời gian, dân Nhật chắc chắn phải cầm súng chiến đấu chống quân xâm lược Mỹ đến người Nhật cuối cùng.
Và ở Việt Nam, thời đại Hồ Chí Minh. Nước Pháp sẽ không đánh nhau với nước Việt trong khoảng mười năm khói lửa. Người Mỹ sẽ không bỏ hơn năm mươi tám ngàn sinh mạng trên chiến trường Việt Nam và người Việt Nam cũng không mất đi hàng mấy triệu người vì phải đánh nhau với họ…
Nếu…
Sau ngày tuyên bố độc lập năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã không gởi công hàm (hoặc có mà tôi không biết) đến Cộng hòa Liên Bang Xô Viết (cái nôi đào tạo các vị cách mạng tiền bối cộng sản VN) để xin công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cụ lại gởi nhiều (tám) bức thư cho tổng thống Harry S. Truman của nước Mỹ để yêu cầu nền độc lập của nước mình được công nhận.








