Saturday, November 7, 2026

NGÔI TRƯỜNG KÝ ỨC

Ở một vùng xa xôi theo địa lý, quê tôi thật là heo hút, những năm sau 1954. Là vùng quê, lẽ sống dựa vào ruộng đồng, rừng núi; việc học hành phải nói là cam khổ. Lúc còn thuộc Pháp, trường học là trường làng.

Thầy dạy là những người có chút vốn chữ Nho, chút tiếng Pháp, và một số vốn quốc ngữ, đủ để “khai hóa” những đứa trẻ đến tuổi “vỡ lòng”. Học phí là những ang lúa (30 lon) trả sau các vụ mùa chứ không phải hằng tháng bằng tiền. Cũng có vài học sinh học...không tiền, không lúa; phụ huynh sẽ làm một số việc nông tang như cuốc đất, cày ruộng, gặt lúa...cho thầy để bù vào học phí của con mình. Rất tự nguyện giữa cha mẹ và thầy giáo. Người dạy thường gọi là ông giáo. Không hề có "bà giáo" (cô). Nếu là tên Lâm, người ta sẽ gọi ông Giáo Lâm. Giáo Liễu, Giáo Xuân, Giáo Nặc, Giáo Cần ...

Người Pháp không chú trọng giáo dục ở nông thôn. Người Việt tự mở lớp cho dân làng. Nhưng để ảnh hưởng Pháp nhiều hơn, họ cũng mở trường ở quê tôi. Nó có tên tiếng Pháp Ecole de Đức Thượng-  tên của tổng Đức Thượng năm 1928, có thể nói là rất sớm.

Người dạy là các thầy giúp lễ ở các nhà thờ, có thể là thầy “năm”, thầy “sáu” (số năm tu học)...những người đang trên đường tu có thể sẽ là linh mục. Họ giỏi tiếng Pháp và chữ quốc ngữ. Người dạy đầu tiên ở ecole này thầy Cảnh- người Bình Định, phụ giúp một vị linh mục của giáo xứ gần đó- làng Trúc Hà. Các vị sau đó là ông giáo Xuân (còn gọi là cửu Xuân, ông ngoại của nghệ sĩ Hoài Linh), ông giáo Cần (con trai nhà chí sĩ Lương Thúc Cần) và một vài vị tôi không biết tên. Trường chỉ dạy đến lớp 3 (không phải lớp 3 ngày nay), tương đương với yếu lược. Sau đó họ phải về (quận cũ) Phú Hương cách đó hơn 10 km để học các lớp có thể thi primaire (hết cấp 1).

Học sinh đậu primaire rất hiếm chứ không phải rất ít. Người Pháp muốn hạn chế việc học hành của người An Nam. Hạn chế làm số người đỗ tiểu học rất ít và rất giỏi. Cả huyện hay mấy huyện mới có một người đậu trung học, gọi là diplome. Ai đậu tú tài sẽ được huyện cử người kiệu họ về làng cùng với sự đón rước trọng thể. Gia đình có người đỗ mổ trâu thết làng. Ông Nguyễn Mênh người làng tôi có vinh dự như thế. Ông đỗ tú tài năm 1939. Sau, ông làm đến chức phó tỉnh trưởng.

Sau 1954, chính thể VNCH chú trọng việc mở trường ở cái vùng quê hẻo lánh chúng tôi. Ban đầu là trường tiểu học Lộc Bình- ngôi trường duy nhất của một đơn vị hành chánh sau này là quận Thường Đức. Thời gian sau độ năm 1959 thì có thêm một ngôi trường nữa với tên gọi trường tiểu học Trung Đạo. Ngôi trường lấy tên làng tôi dù nhận học sinh từ nhiều làng khác nhau (tới 8 làng lận).

Trường tiểu học kiên cố xây trên dải đất rộng chừng một hectare, mặt nhìn ra  trục đường chính đi về đồn An Điềm (sau này là trại cải tạo cùng tên), sau lưng là cánh đồng lúa mênh mông. Hông trường một bên giáp nhà dân; bên còn lại cũng là cánh đồng. Ở vị trí như thế, ngôi trường lợp ngói có năm phòng luôn luôn thông thoáng vì có gió thổi lồng lộng của cánh đồng lúa bao la.

Trường dành phòng giữa làm nơi nghỉ giải lao của thầy (không hề có cô từ lúc thành lập cho đến khi trường “giải tán”). Bốn phòng còn lại dành cho các lớp từ lớp tư đến lớp nhất (tức lớp 2 đến lớp 5). Những năm trước 1963 còn duy trì các kỳ thi tiểu học.

Số học sinh ít dần khi lên gần kỳ thi tiểu học vì không phải ai cũng có thể lên lớp. Ở lại lớp là chuyện rất thường; chẳng phụ huynh hay học sinh cảm thấy xấu hổ nếu con mình hay học sinh “lưu ban”. Có lưu ban mới có chất lượng học hành. Lớp tư (bậc thấp nhất) thường có sĩ số học sinh trên dưới 60 người. Tuổi học không đồng đều. Có học sinh có vợ vẫn còn cắp vở đến trường. Dù đông nhưng rất trật tự.

Những năm của thập niên 1950, trật tự trong lớp thường được duy trì hiệu quả qua cây roi (bằng sợi mây) của thầy dạy. Quất roi vô mông những học sinh quậy phá hay làm biếng học. Những lằn roi trên mông ở trẻ con chúng tôi không hề là kết quả của sự tức giận của ông thầy- nó là lời nhắc nhở, đậm cái chất “thương cho roi cho vọt”. Có thầy dùng roi nhưng có thầy chẳng dùng, chỉ “ra oai” bằng những cái roi nhịp nhịp trước lớp. “Một cái nhá bằng ba cái đánh”. Học sinh chúng tôi rất nhát đòn.

Tôi nhớ tiểu học (1960-1964) của tôi không có sách giáo khoa. Không rõ ở thành phố, thị trấn thế nào. Đọc chép. Tấm bảng đen to tướng là nơi diễn ra sự học tập. Người thầy phải nói là tội nghiệp. Họ vừa đọc vừa giảng vừa kiểm tra việc học. Các thầy dạy không còn là người có học ở địa phương. Một vài vị thầy các nơi đến dạy. Thế là chuyện cười ra khóc diễn ra.

Một ông thầy người Huế đọc chính tả và học sinh người Quảng chúng tôi viết nửa trang giấy gần như chữ nào cũng sai chính tả. “Đật nược ta thanh bình, trên nhựng cạnh đồng lụa mênh mông, từng đàn cò bay chập chợi, người nông dân hồ hợi gạnh lụa về, lòng hân hoan sung sượng...”. “Xuống dòng phẩy” và chữ phẩy luôn ghi ra chứ không phải dấu phẩy. Chưa kể, lần đầu tiếng chúng tôi biết dấu phẩy là dấu phết!

Chính tả là môn kém nhất của chúng tôi những học sinh người Quảng miền quê. Bây giờ có cả một hai nhà báo có thời đình đám (bị đá về vườn) cũng viết sai chính tả trên facebook; có lẽ do giọng nói xứ tôi nó chẳng giống ai từ thuở mở cõi. Chính sự giao lưu giữa người các vùng miền khiến người Quảng chúng tôi thích nghi và nghe thủng những cách nói của những vùng miền. Cũng may thời đó không có môn ngữ pháp ở bậc tiểu học. Nếu có thì tôi bây giờ hẳn còn mù chữ không đọc nổi a bờ cờ...

Học sinh tiểu học không hề có học thêm. Cũng chẳng ai dạy thêm vì chúng tôi và thầy thời đó không ai hình dung ra “thành tích” là cái gì ở lớp “chùi mũi chưa sạch”. Mỗi tuần nghỉ ngày thứ 5 và chúa nhật, ngày học hai buổi. Trẻ vùng quê thập niên 1960 chủ yếu là chơi nhiều hơn học. Chơi các trò bắn bi, đánh thun, nhảy cò, đánh nẻ (nữ) u mọi, tắm sông, bắn chim, hái (trộm) xoài ổi...là sinh hoạt chung của học sinh.

Thanh bình một làng quê, thanh bình cho một ngôi trường tiểu học. Một ngày, thanh bình chấm dứt và ngôi trường thân yêu của chúng tôi cũng chấm dứt.

Lính quận hành quân bao vây sáng tinh mở mấy căn nhà nghi có Việt Cộng nằm ở đầu làng trơ vơ giữa những cánh đồng ruộng sát trường tiểu học. Một học sinh đi học quá sớm, tò mò quan sát bóng đi xa xa của những người mang súng trong đám sương mờ dày đặc. Em bị bắn nhưng may mắn đạn chỉ phá nát phần giữa bàn chân. Nghe tiếng thét thất thanh những học sinh khác chạy đến. Bạn học lớp tôi ngồi xuống đất vệ đường, máu ra xối xả. Lần đầu tiên trong đời tôi thấy máu người đổ, lại là máu của người bạn cùng lớp nhất với tôi. Sau đó, lính đến, một y tá băng bó cho bạn. Họ gọi xe jeep đưa về bệnh viện.

Đó là những ngày gần cuối của niên học 1963-1964. Máu của một học sinh đã đổ. Ngôi trường thân yêu của chúng tôi bị bỏ hoang. Sinh hoạt học hành buổi thanh bình chuyển thành sinh hoạt chạy giặc thời chiến tranh. Ngôi trường biến mất không rõ vì bom hay vì mìn trong thời gian quê hương tôi đầy máu lửa. Sau năm 1975, ngôi trường chỉ còn sân gạch, vài trụ xi măng hàng hiên, và vài đống đổ nát. Số phận ngôi trường biến số phận của chúng tôi- những học sinh- mỗi người mỗi ngả.

Ngày nay, lũ học sinh chúng tôi đều qua tuổi 73, người còn kẻ mất, người trong nước, kẻ nước ngoài, người thành thị, kẻ nông thôn, cảnh ngộ mỗi người mỗi khác, gặp nhau lần đầu, chúng tôi không thể hình dung lại gương mặt của nhau qua 62 năm cách biệt. Người bạn bị bắn nát bàn chân đến bây giờ tôi vẫn chưa gặp lại; hình ảnh đau thương của bạn gắn liền với hình ảnh bi thương của một ngôi trường, nay, chỉ còn trong ký ức.

Tuesday, September 8, 2026

TRUNG MANG

Đây là “thị trấn” cách Đà Nẵng chưa tới 50 km, nằm ở vùng rừng núi phía Tây tỉnh Quảng Nam (cũ). Năm 1979, Trung Mang là nơi “cứu đói” cho công nhân viên chức Đà Nẵng nhờ ở đây đất đai màu mỡ thích hợp cho việc sản xuất hoa màu, cải thiện các bữa ăn có bo bo.

Ảnh: Một ngôi nhà ở Trung Mang.

Ở trên độ cao của dãy Trường Sơn, khí hậu tại Trung Mang na ná khí hậu Bà Nà. (Đứng đây tôi nhìn thấy các "lâu đài" của Bà Nà). Các nhà quy hoạch từ miền Bắc vào đã cho trồng chè trên các đồi núi có hình dáng không khác các đồi chè ở tỉnh Lâm Đồng (cũ)  và hiện nay, nông trường chè đã đổi chủ, nghe nói một người chuyên làm chè từ Bảo Lộc về đây đang đầu tư khai thác.

Wednesday, July 22, 2026

KHAI PHÓNG

Lúc còn là học sinh chuẩn bị thi tú tài 1 (lớp 11 bây giờ), tôi không hình dung mình đang học tập ở trong môi trường giáo dục, về già, tôi mới tìm hiểu, là DÂN TỘC, NHÂN BẢN và KHAI PHÓNG.

Hơn nửa thế kỷ sau, khi đất nước ở vào thế kỷ vươn mình, tôi mới nghe đến hai từ KHAI PHÓNG. Nó không “hiền hòa” như trước mà rất “dữ dằn”. Không dữ dằn sao được khi một vị chức sắc cấp cao phát biểu có từ khai phóng; thời gian ngắn hai từ ấy sợ quá "lặn"  mất tăm. Một ngôi trường đại học bề thế cũng “phụ rãy” hai từ ấy khỏi sự định đặt  cho một lối học khai phóng. Tất nhiên, một cái tượng dựng lên có tên khai phóng trở thành tượng đập, tượng dỡ. Khai phóng trở thành hai từ nguy hiểm.

Học sinh chúng tôi thời giáo dục VNCH không hề nghe tuyên truyền về nền giáo dục có tính dân tộc, nhân bản, và khai phóng. Nhưng giờ đây, tôi mới biết, học sinh thời ấy đã "thấm nhuần" qua chương trình học hướng về:

-Dân tộc (ví dụ về lịch sử): Vua Gia Long và hoàng đế Quang Trung đều được học sinh quý trọng ngang nhau. Không vì  (bị quy tội) “rước voi về giày mả tổ” mà chúng tôi coi thường vị vua có công thống nhất đất nước. Tôi nhớ có bài giảng hồi tiểu học nói về Nguyễn Ánh, tiêu đề “Vua Gia Long thống nhất sơn hà” và hình ảnh của ông. Dù không đội trời chung với Nguyễn Ánh, chúng tôi vẫn học và vẫn rất tự hào về chiến công hiển hách của vua Quang Trung Nguyễn Huệ, đánh tan quân nhà Thanh xâm lược.

Chúng tôi biết Gia Long đào mộ Quang Trung lên, lấy đầu lâu cho quân tiểu vào, nhằm trả thù cho nỗi đau cả gia tộc bị sát hại ngày xưa. Chúng tôi nghe kể vua Quang Trung khi ở Phú Xuân cũng cho người đào mộ  các chúa Nguyễn, đổ hài cốt xuống sông Hương. Hận thù giữa hai vì vua không làm cho học sinh yêu vị này phải ghét vị kia và ngược lại. Trong giáo dục, chúng tôi được học cả hai đều có công trạng to lớn đối với nước nhà. Không vì yêu ghét mà kẻ trọng người khinh đối với các nhân vật lịch sử. Đó không phải tinh thần dân tộc thì là tinh thần gì?

-Nhân bản: Dù không được dạy thế nào là nhân bản nhưng cách đối xử con người với nhau, tôi thấy tính nhân bản hiện ra rõ nét. Nhiều cán binh cộng sản bị thương đều được chăm sóc tử tế ở bất kỳ nhà thương (bệnh viện) nào, tất nhiên có người canh giữ, hoặc còn tay chân thì phải xích vào giường nằm.

Trong lớp tôi, năm bảy đứa có cha hay anh “theo Việt Cộng”. Họ không bị phân biệt đối xử. Bạn tôi có cha đi tập kết vẫn thi đậu vào trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, nơi đào tạo ra các sĩ quan hiện dịch, nghĩa là phục vụ trọn đời trong quân đội, có thể lên tướng.

Cả những người hoạt động cộng sản bị bắt nhốt tù như luật sư Lê Hiếu Đằng vẫn được cai tù dẫn đến trường để thi tú tài vì ông có nộp đơn thi trước khi bị bắt. Tú tài thời ấy là tấm bằng giá trị giúp một người trưởng thành có thể bước vào đời một cách tự tin.

Bây giờ, qua khỏi ngưỡng 70,  tôi mới nghiệm ra những việc trên chính là bài học “nhân bản”, đầy tình người.

-Khai phóng: Bây giờ người ta lại sợ…khai phóng, cứ tưởng nó “ghê quá”. Trái lại, khi đi học, tôi thấy KHAI PHÓNG rất đáng yêu.

Ở chương trình tú tài II (lớp 12 bây giờ), có dạy môn triết. Nghe oai thế nhưng triết ở đây chia ra làm 4 môn học: Tâm lý học, luận lý học, đạo đức học, và siêu hình học. Ngoại trừ ban C (Văn-Ngoại ngữ) phải học sâu hơn, sách dày hơn, các ban khác như A (Vạn vật) hay B (Toán-Lý Hóa) đều học nhưng nội dung ít hơn, tất nhiên hệ số cũng nhỏ hơn. Hệ số (tối đa gấp 4 lần) là số nhân lên cho điểm số các môn chính. Học sinh giỏi môn chính thì khả năng đậu tú tài cao hơn. Học gì thi nấy-tất cả các môn, không như bây giờ chỉ thi những môn chính.

Một vài ví dụ cho môn Tâm lý học. Thời gian khác kỳ gian. 24 giờ một ngày là thời gian. Chờ người yêu, thời gian như kéo dài ra, gọi là kỳ gian. “Một ngày không gặp như là ba thu” (ca dao). Một ngày là thời gian; ba thu (ba năm) là kỳ gian.

Một câu chuyện khác: Hai thầy tu trẻ đang chuẩn bị xắn quần lội qua con suối lớn thì thấy một cô gái xinh đẹp cũng đang đứng bên bờ, lưỡng lự vì nước khá sâu. Một vị thầy đi lại, khom người trước cô gái và bảo cô nhảy lên lưng để thầy cõng qua suối. Ngần ngừ một lúc, cô gái liền ôm lưng thầy chùa. Cuối ngày, gần bước vào cổng chùa, bạn đồng hành bèn lên tiếng “thầy là người tu hành, tại sao lại tiếp xúc với phụ nữ, không sợ phạm giới ư”?’. Vị thầy chùa kia đáp “Tôi cõng và đã bỏ cô gái ấy bên kia bờ suối rồi, sao thầy còn “mang” về tận đây”.

Về luận lý học, có một ví dụ nhiều người bây giờ gọi là tam đoạn luận: Mọi người ai cũng chết. Socrate là người. Socrate cũng phải chết.

Bước vào tuổi 18, hành trang vào đời của học sinh chúng tôi có khi là những mẩu chuyện kể như thế. Sinh viên bây giờ, tất cả  có học những môn “triết” như học sinh chúng tôi ngày xưa?

Chưa tới 20 năm, nền giáo dục VNCH không tránh khỏi khiếm khuyết nhưng chủ trương dân tộc, nhân bản, và khai phóng  đáng cho chúng ta suy nghĩ. Khai phóng sẽ là hai từ cần thiết cho đất nước muốn vươn mình.

Wednesday, July 1, 2026

KHAI PHÓNG, NGUY HIỂM QUÁ?

KHAI PHÓNG

(Tâm tư của Cô Lê Bình, giáo viên Văn sau đêm trắng)

“Khai” khi chúng nó mở ra

“Phóng” là bắn mạnh xoà xoà từ trên

Vội vàng tay kéo xéc lên

Amoniac vang rền mùi khai.

….

“Khai” chi một lũ dạy đời

“Phóng” vào lịch sử những lời vô ơn

Giữ gìn bản sắc vẫn hơn

Văn hóa mà mất, Nước còn nổi không?

(Đêm trắng 20/6/2026)

Có một facebooker tên Nguyen Quang Thieu (không phải Nguyễn Quang Thiều, nhà thơ) viết: “Toàn thể Nhân Dân Việt Nam hãy đoàn kết, quyết tâm tẩy chay KHAI PHÓNG  đối với Văn hóa Việt Nam và Giáo dục Việt Nam”. (Chép đúng nguyên văn).

Không hiểu KHAI PHÓNG có phải là tư tưởng của một tổ chức phản động, nhân dân cần phải “tẩy chay”? Và KHAI PHÓNG có phải là nước tiểu hôi hám và bẩn thỉu?  (“Amoniac vang rền mùi khai”).

Với tôi, dân tộc ta muốn “sánh vai với cường quốc năm châu” (1), đất nước cần phải trân quý KHAI PHÓNG.

Nhưng KHAI PHÓNG là gì?

Định nghĩa có nhiều, nhưng theo tôi, khai phóng (hiểu như ngày nay) là tôn trọng sự khác biệt, không bị ràng buộc vì định kiến, luôn luôn học hỏi, sẵn sàng thay đổi khi có bằng chứng mới, và tư duy độc lập nhưng không cực đoan.

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đặt Khai Phóng làm “triết lý” giáo dục (Dân tộc- Nhân bản- Khai phóng).

Khai phóng không phải là sản phẩm tư tưởng “lai căng” du nhập từ nước ngoài.

Tinh thần ( và tư tưởng) khai phóng xuất hiện rất sớm trong lịch sử nước nhà.

Vua Trần Nhân Tông cho đốt danh sách, không bắt tội,  những người đầu hàng, câu kết với giặc sau khi kết thúc cuộc kháng chiến. Lẽ thông thường, những đối tượng ấy cần bị trừng trị để làm gương nhưng vị Phật hoàng ấy: Không muốn khơi lại hận thù sau chiến tranh. Tránh chia rẽ trong triều đình và trong nhân dân. Tạo điều kiện để những người từng lầm đường có cơ hội sửa đổi và cùng xây dựng đất nước.

Ở thế kỷ thứ 13 mà tư tưởng ấy vượt ra ngoài “phép nước”. Đó không phải là tinh thần khai phóng hay sao?

Chu Văn An là một ví dụ cho tinh thần khai phóng. Ông luôn luôn chính trực, dám nói lên điều đúng, lấy đạo đức làm gốc trong giáo dục, có trách nhiệm của người trí thức đối với đất nước, không khuất phục trước quyền lực.

(Theo wikipedia) "ông  là người thầy của mọi thời đại, nhà giáo lỗi lạc của Việt Nam, đã dành cả cuộc đời cho sự nghiệp dạy học, với triết lý giáo dục nhân văn, không phân biệt giàu nghèo, học đi đôi với thực hành, học suốt đời để biết, để làm việc và cống hiến cho xã hội. Tư tưởng đó của ông không những có ảnh hưởng tới nhiều thế hệ người Việt Nam mà còn góp phần phát triển các giá trị nhân văn trong khu vực. Quan điểm giáo dục của ông có những giá trị tiến bộ vượt thời đại, gần gũi với mục đích giáo dục của thế giới hiện nay".

Triều nhà Nguyễn có thể không bị mất đất cho thực dân Pháp nếu cả triều đình Tự Đức nghe theo biểu tấu của Nguyễn Trường Tộ để canh tân đất nước. Trong suy nghĩ thông thường của những nhà Nho trí thức thời phong kiến, Trung Hoa là số một. Các thám hoa, bảng nhãn, tiến sĩ trong hàng ngũ quan lại (tôi chắc có người không biết bảng cửu chương) coi những điều trần của Nguyễn Trường Tộ là “lố bịch”, viển vông. Những đề nghị “khai phóng” của ông bị bỏ mặc: Tổ chức bộ máy nhà nước; phát triển kinh tế (chú trọng thương mại và công nghiệp); cải tổ quân đội, chế tạo vũ khí hiện đại; đổi mới giáo dục (chú trọng khoa học và kỹ thuật); mở rộng quan hệ với các nước để học hỏi tiến bộ.

Nhật Bản cùng hoàn cảnh như Việt Nam thời đó – coi Trung Hoa là thiên triều- nhưng nhờ có tư tưởng khai phóng, họ trở thành một nước phát triển: bởi sớm thoát Trung. Dù bị tan nát sau chiến tranh, chỉ cần hơn hai chục năm, họ có nền kinh tế mạnh thứ hai trên thế giới sau năm bại trận (1945). Nếu không có tinh thần khai phóng, chấp nhận đầu hàng nhục nhã trước kẻ thù, để một “tên mũi lõ” Douglas MacArthur “cai trị” nước mình một thời gian, dân Nhật chắc chắn phải cầm súng chiến đấu chống quân xâm lược Mỹ đến người Nhật cuối cùng.

Và ở Việt Nam, thời đại  Hồ Chí Minh. Nước Pháp sẽ không đánh nhau với nước Việt trong khoảng mười năm khói lửa. Người Mỹ sẽ không bỏ hơn năm mươi tám ngàn sinh mạng trên chiến trường Việt Nam và người Việt Nam cũng không mất đi hàng mấy triệu người vì phải đánh nhau với họ…

Nếu…

Sau ngày tuyên bố độc lập năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã không gởi công hàm (hoặc có mà tôi không biết) đến Cộng hòa Liên Bang Xô Viết (cái nôi đào tạo các vị cách mạng tiền bối cộng sản VN) để xin công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cụ lại gởi nhiều (tám) bức thư cho tổng thống Harry S. Truman của nước Mỹ để yêu cầu nền độc lập của nước mình được công nhận.

Thursday, May 21, 2026

MẤY NGÀY Ở NHÀ THƯƠNG

Con người thường chịu đựng tới một giới hạn nào đó để duy trì ứng xử  ‘phải đạo’ với nhau. Sự chịu đựng này sẽ có “cường độ” khác nhau ở những mối quan hệ tuy giống nhau: có sự khác nhau giữa cha mẹ và con cái; giữa vợ và chồng; giữa anh chị em; giữa những người thân khác trong gia đình. Và sự chịu đựng này thể hiện rất rõ ở…nhà thương (bây giờ người ta hay gọi là bệnh viện).

Giai đoạn sinh lão bệnh tử- ai cũng sẽ trải qua- chi phối con người, nhiều nhất là…giai đoạn bệnh.

Không ai biết mình sẽ bệnh lúc nào nhưng có thể biết vì sao họ bệnh nhưng vẫn muốn bệnh. Đó là một vị trung niên mới qua tuổi 50  nhưng nhìn như ông cụ hom hem trên 60: nước da sạm đen vì gan chai lỳ bởi rượu. Trong một gian phòng chật hẹp kê đủ 6 chiếc giường bệnh và một lối đi nhỏ nên tôi tự nhiên hiểu rõ hoàn cảnh của ông nhờ nằm sát nhau.

“Đù má! (tôi xin lỗi phải nhắc nguyên văn), ỉa thì phải báo chớ ông đổ đầy ra giường thế này làm sao tui dọn?”. Chửi thề dường như rất quen thuộc với một số người miền Nam. Thực cũng hãi hùng. Mùi nước tiểu, mùi nước phân (bệnh nhân đang điều trị tiêu chảy), mùi mồ hôi từ chiếc khăn bàn dùng làm mền bốc lên nồng nặc. Năm bệnh nhân và những người nuôi đều nhăn mặt nhìn chỗ khác. Người phụ nữ tầm dưới 50 vừa dọn vệ sinh cho anh ruột vừa tuôn những tràn chửi bới, mà nêu đủ ra đây, có khi tôi phải mang lấy tội.

Lúc hoàn tất, rửa tay xong, chị hài tội nạn nhân như để chữa thẹn hành động vừa rồi với mọi người chung quanh. “Ổng có tới ba bà vợ; bà nào ở một thời gian cũng bỏ đi vì ổng nhậu nhiều hơn ăn; nhác làm siêng nhậu; bây giờ bác sĩ nói gan chai. Hèn chi, ổng không chịu ăn, chỉ uống chút sữa. Lại còn bướng bỉnh, nói không chịu nghe. Tui cũng gặp thằng chồng in như ổng. Tôi bỏ nó (chồng) hơn 7 năm nay rồi; nay lãnh thêm cục nợ này – vừa nói chị vừa chỉ vào người anh đang nhe răng ra cười, hàm trước còn mấy chiếc đưa ra khỏi môi. “Vô nhà thương lần này là lần thứ sáu- cũng do rượu. Lần nào cũng báo khổ tui”.

Chồng chị cũng đang nằm phòng cấp cứu dưới lầu vì xuất huyết bao tử, ói ra máu, đang được truyền máu. “Sao chị không ở với anh?”. “Mặc xác nó. Có con gái ổng lo (con chung hai người)”. Chị nói ông chồng chị chỉ thích nhậu không thích làm. “Hễ có ai cho ít tiền là ổng đi tìm bạn nhậu. Tui đi mần cực khổ mới có đồng tiền, hớ ra là nó ăn cắp để đi mua rượu”.

Hai người đàn ông nát rượu ấy đi qua giới hạn sự chịu đựng của người đàn bà. Nhưng vì trách nhiệm làm vợ, vì tình nghĩa anh em, người phụ nữ phải tiếp tục cam chịu. Hành vi và thái độ của chị đã không còn ở ngưỡng cam chịu ấy nữa. Hai con người hai bợm rượu. Tại sao không là hai trái tim yêu thương?

Phía góc phòng tôi nằm là giường một cụ bà 73 tuổi, người Quảng Trị (hay Huế gì đó). Bà trông khắc khổ, tóc khô khốc bạc. Bà nằm một mình không người chăm. Thỉnh thoảng người con trai đến với bà đôi ba giờ rồi phải vội vã đi làm. Thấy anh trao đổi công chuyện liên tục qua điện thoại. Người mẹ than đau bụng không đi cầu đã hai hôm. Giọng nhỏ nhẹ qua điện thoại chuyển cường độ, người con quát: “Sao mạ không hỏi bác sĩ lúc sáng? Nói với con làm gì”.

Bà mẹ yên lặng; gương mặt khắc khổ bỗng càng khắc khổ hơn. Lúc con ra  về, bà tâm sự với chúng tôi. Nó (con bà) cất điện thoại trong thời gia tui vô giữ con cho nó. Vợ chồng nó sợ tui gọi về với mấy chị nó ngoài quê than phiền. Trông cho con nó lớn đi học, tui về quê. Ở đây khổ quá. Tôi không rõ ở dây là ở nhà con bà hay ở nhà thương.

Người mẹ sẽ được cư xử tốt hơn nếu không mắc bệnh phải đến nhà thương? Tôi tự hỏi.

Dù phải cắn răng nén nỗi đau bệnh của mình, tôi vẫn thấy mình hạnh phúc hơn cụ bà và cụ ông nằm cạnh. Khi lâm vào sự đau yếu, mỗi người đều có một hoàn cảnh đối xử riêng. Sự chịu đựng của con người luôn có giới hạn. Chỉ có tình yêu thương mới làm con người vượt qua giới hạn của sự chịu đựng.

Tám ngày ở nhà thương, suýt về nước Chúa, (cha đạo đã đến xức dầu Thánh ngày thứ hai), nghe hoàn cảnh hai người ở trên, tôi mới thấy sức chịu đựng của bà xã mình là…vượt giới hạn.

Monday, April 20, 2026

MÓN NGON

Món ngon không hẳn chỉ nổi tiếng, "đặc sản" mới ngon. Món ngon thường tùy khẩu vị, thói quen ăn, đôi khi tùy hoàn cảnh nữa.

Đói quá, ăn cơm nguội độn ngô (bắp) với tương bần, chờ món " mầm đá" của Trạng Quỳnh, vua khen ngon nức nở; nem công chả phượng sao bằng cơm hẩm, tương thiu khi người ta đói.

Hay nổi tiếng như cao lầu Hội An. Nhiều bạn sành ăn người Sài Gòn tôi dẫn đến thưởng thức, nhằm "quảng bá" món đặc sản quê nhà; chưa bước ra khỏi quán, họ cằn nhằn với tôi, "dở ẹc", " cọng mì khô như rơm"; đã toi tiền mời, còn rước thêm tức giận, tôi nghĩ bụng, đến Nguyễn Tuân còn khen, tụi mầy bày đặt chê, đúng là chả sành ăn tí nào.

Giới sành ăn đa phần nam giới. Nữ không phải thua nam trong nghệ thuật ẩm thực. Chẳng qua họ nấu mãi món ngon nên chẳng thấy ngon. Mấy lão đàn ông thường thích phở, thỉnh thoảng trốn ăn cơm nhà, nên ra ngoài, chỗ nào "ngon" họ cũng rành sáu câu, khoái ăn ngon nhờ đó.

Đàn ông thích ăn ngon không phải hiếm, nhưng hiếm người coi cái ăn như là nghệ thuật. Thời xưa, thói phong kiến hình thành trong máu, bao nhiêu đời, nấu ăn là của đàn bà. Khổng Phu Tử: "người quân tử nên xa nơi bếp núc". Nấu ăn chỉ dành cho đàn bà?

Nhưng ngày nay, nấu ăn ngon lại là đàn ông, các khách sạn 5 sao, rất hiếm chef de cousine, bếp trưởng là đàn bà.

Nấu ăn là nghệ thuật mà trong bất kỳ lãnh vực nghệ thuật nào, tính táo bạo đều góp phần sáng tạo các tác phẩm để đời. Phụ nữ có người thông minh, tài hoa, nhưng táo bạo không bằng đàn ông, nấu ăn thiếu "đam mê khám phá", nên món ăn họ nấu rất ngon, nhưng không qua nổi các ông. Thưởng thức món ăn ngon, phụ nữ ít quan tâm, cái họ quan tâm hơn là sắc đẹp và cơ thể.

Ở VN thời xa xưa, ít nhà sử học nào nói đến món ăn, chứ đừng nói món ngon. Trong giới văn nghệ sĩ trước đây, đầu thế kỷ 20, có ít người nói đến hay ca ngợi món ăn, món ngon, ăn ngon.

Gần nhất tôi thấy có Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu nhờ tính "ngông " của thi sĩ. Ông có cả 1 bài viết về ăn ngon, trong đó, 4 yếu tố ông nêu: món ngon, chỗ ngồi ngon, người ăn ngon, và giờ ăn ngon. Và cả một bài dài diễn tả cái ngon đọc mà sốt ruột (văn biền ngẫu lỗi thời), không ngon cũng khen ngon, nếu không kiên nhẫn đọc cho hết bài (tên bài tôi quên, những ai học giảng văn đệ thất tầm 1965, đều có đọc bài này trong sách giáo khoa).

Ăn ngon theo Tản Đà hẳn rất ngon, nhưng tôi thấy còn thiếu vài yếu tố: trong đó, nổi bật nhất là yếu tố yêu thương.

Món tôi thấy ngon vì nó gói gọn yêu thương: mắm cái Quảng Nam. Mắm cái Quảng Nam không phải là món ăn phổ thông ở các vùng khác, chưa nói có ngon hay không, và chưa kể nhiều người không bao giờ dám động đũa chạm vào, dù họ là dân chính gốc Quảng Nam. Chúng tôi thường gọi mắm cá nục là mắm cái. Thật ra mắm cá cơm cũng là mắm cái.

Nhưng đối với tôi, đó là món rất ngon. Mắm cái đồng hành cùng cuộc sống cha mẹ tôi, cùng hàng ngàn dân vùng quê thời xa vắng; mắm "nuôi" tôi lúc hai, ba tuổi, khi bắt đầu biết ăn cơm.

Những con cá nục nhỏ bằng ngón tay, tươi nhanh, no tròn, mẹ tôi chọn mua từ Hội An (bà nói cá Đà Nẵng không ngon bằng) trộn với muối ở tỷ lệ nào đó, đem ủ kín trong một hủ đất nung thật to, một thời gian nhất định. Khi mắm đã "chín" con cá nục không còn là cá, nó là con mắm "đỏ" tươi, nhiều dinh dưỡng trong khẩu phần ăn người nông dân nghèo.

Con mắm ngon phải có màu đỏ tươi, nhìn rất bắt mắt, thấy là muốn ăn cơm, nhưng phải là cơm nóng, nấu từ gạo đầu mùa, có rắc một ít ớt bột cho thêm ngon miệng; mắm có vị vừa ngọt không phải như đường, vừa mặn không phải như muối, và một mùi thơm đặc trưng, chỉ có người Quảng Nam tầm tuổi tôi mới cảm nhận được, bởi đó là mùi vị quê hương, mỗi người chỉ một. Mùi những con mắm mẹ tôi bảo phải "chôn" giữa chén cơm đang nóng, "ăn nóng mới ngon".

Đó là những bữa ăn đơn giản, mắm thay cá biển, quê tôi rất xa biển. Nước của mắm cái sẽ được dầm những chú cá rô nướng nhánh mỡ, vàng ươm, gừng đâm nhỏ với một ít ớt xanh (không phải ớt đỏ). Vào những ngày mùa đông giá rét, lúc tôi 5, 7 tuổi, bữa cơm mắm cái là cá, là thịt của cả gia đình tôi.

Mấy chục năm sau, mắm cái vẫn là món tôi không hề quên trong bữa ăn mỗi tuần một lần, dù con cái ít đứa nào đụng đũa tới. Món ăn thời niên thiếu của bố, chúng đâu thuộc về thời niên thiếu ấy.

Còn một lý do nữa tôi thấy ngon, trong sâu thẳm của ký ức tuổi thơ, mỗi lần vợ tôi gắp mắm ra, nhìn màu hồng tươi của mắm, tôi nhớ lời mẹ, giọng bà luôn ân cần, cái giọng tôi đã quen nghe như thế, trọn cả cuộc đời mình: "ăn cùng với cơm nóng mới ngon".

Không bao giờ tôi có cơ hội để nghe lời dặn đơn sơ ấy nữa. Mắm còn đây, con còn đây, mẹ không còn nữa. Bữa cơm ấm cúng có con mắm nục cùng ăn với mẹ, chỉ còn trong ký ức.

Nhìn con mắm, tôi thầm gọi :"Mẹ, ơi!".

 

Sunday, April 12, 2026

GIÁ TÔ CHÁO LÒNG VÀ CHIẾN TRANH IRAN

“Cho cháu 30 ngàn chú ơi”. “Mọi bữa 25 ngàn, sao nay tăng vậy”. “Xăng lên, vật giá lên, chú thông cảm”. “Đâu có lên mãi đâu, giá xăng xuống rồi mà”, tôi giải thích. “Xăng lên xăng xuống nhưng giá cả thì không” Cô chủ quán đốp chát. Tôi móc bóp trả tiền, và ra về chẳng lấy gì làm vui vẻ. Người dân ngày nay theo dõi thời sự rất sát. Không  phải bật ti vi, họ chỉ cần bấm điện thoại, mọi sự việc trong nước, thế giới đều hiện ra. Chị chủ quán cháo lòng này cũng vậy.

Khi Trump và Iran tuyên bố ngưng chiến dù chỉ hai tuần, cả quán như “vỡ ối”, ý lộn, vỡ òa sung sướng. Ở quán cháo lòng hôm nay, đề tài chính không phải là ai đắc cử chủ tịch nước, ai thủ tướng, ai chủ tịch quốc hội. Mà là Trump, Donald Trump và I ran. Chắc chắn giá xăng dầu sẽ hạ, mọi người trong quán hí hửng hy vọng. Nhưng họ không chắc vật giá sẽ hạ theo. Đã lên thì không xuống đó là quy luật thị trường định hướng XHCN: thịt cá đường sữa gạo dầu…

Cả Mỹ và Iran đều tuyên bố họ chiến thắng. Đối phương phải ngồi vào bàn đàm phán để mở đầu cho việc chấm dứt chiến tranh, khởi đầu là ngưng chiến. Phó tổng thống Mỹ cho rằng cuộc ngưng chiến này mong manh (fragile ceasefire). Tôi thì nghĩ, chẳng mong manh đâu. Sẽ ngưng chiến mãi mãi.

Sau hơn năm tuần Mỹ và “thằng đệ” đánh cho đối phương dập nát; lãnh tụ tinh thần tối cao và hàng chục lãnh đạo ưu tú Iran bỏ mạng. Hệ thống tên lửa bị tiêu diệt 90 %. Máy bay không người lái – thế mạnh của Tehran- bị tàn phá nặng nề, gần như xóa sổ; phòng không đối phương trở về con số không; hải quân hầu hết tàu chiến chìm sâu đáy biển. Kinh tế I ran kiệt quệ.

Vậy mà, tưởng đâu tê liệt, chiến đấu cơ tiên tiến của Mỹ bị bắn hạ. Giải cứu phi công phải trả giá bằng 2 chiếc vận tải cơ khổng lồ, một phi cơ chiến đấu tầm thấp, và 4 chiếc trực thăng. Các nước đồng minh Trung Đông của Mỹ nhận đều đều tên lửa và máy bay không người lái của Iran. Kho xăng, cơ sở sản xuất dầu mỏ lai rai bốc cháy. Giá dầu thô thế giới tăng chóng mặt. Đồng minh ngó lơ khi Hoa Kỳ kêu gọi trợ giúp.

Bên ngoài hùng hổ của tổng thống không che giấu sự lo lắng. Chiến tranh không thể kéo dài đối với Mỹ. Mục tiêu của Hoa Kỳ đạt đến đâu: Dẹp bỏ hiểm họa hạt nhân; tiêu diệt tên lửa đạn đạo; phá hủy nơi chế tạo drone; thay đổi chế độ độc tài thần quyền; triệt phá nguồn hỗ trợ các tổ chức khủng bố nước ngoài. Khai thông eo biển cho dầu qua lại (20% số lượng của thế giới)?

460 ký uranium chỉ cần giấu dưới những hầm đựng rượu, đố ai biết ở đâu. Tên lửa vẫn còn là mối đe dọa. Mỗi ngày “tống” vài quả, cả khu vực dầu mỏ những nước đồng minh của Mỹ lo sốt vó. Chế độ thần quyền còn cứng rắn hơn xưa. Không ai dám xuống đường biểu tình nếu không muốn ăn đạn. Tổ chức khủng bố đàn em (của Iran) vẫn tành tành nã tên lửa vào Israel. Hezbollah  ngoan cố không kém. Eo biển Hormuz vẫn bị đóng. (Ngưng chiến nhưng Israel vẫn đeo theo ném bom, khủng khiếp nhất từ khi bắt đầu chiến tranh ở Liban).

Khi I ran không còn Ali Khamenei , tôi nghĩ tới sự bất lợi của họ. Ông ta là biểu tượng. Lời nói ông ta là mũi tên, ở đâu cũng bắn tới. Khi không còn lãnh tụ, thần quyền mất đi sức mạnh đoàn kết. Không người I ran nào tin tưởng vào một lãnh tụ chẳng hiện diện với đất nước trong tình huống dầu sôi lửa bỏng, hằng ngày đối đầu ác liệt với quân thù.

Nội bộ bất an. Biểu hiện rất rõ khi tổng thống xin lỗi các nước láng giềng vì đã bắn tên lửa vào nước họ thì chỉ huy  Vệ Binh Cách Mạng Hồi giáo vẫn ra lệnh tăng cường tấn công. Thậm chí khi có ngưng chiến với Mỹ, mới đây (theo Reuters) ở thủ đô Tehran người của chính quyền xuống đường với khẩu hiệu “Death to America. Death to Israel. Death to Compromisers”. (Tiêu diệt Mỹ. Tiêu diệt Do Thái. Tiêu diệt bọn thỏa hiệp).

Tổng thống Trump đe dọa sẽ xóa sổ nền văn minh Ba Tư “trong đêm nay” . Cầu đường, nhà máy điện sẽ bị phá hủy hoàn toàn trong 4 giờ. Nếu Iran không đạt thỏa thuận (deal) và eo biển Hormuz không được mở.

Thế giới nín thở theo dõi. Nhưng nếu còn Khamenei tôi chắc ông ta sẽ không sợ sự đe dọa đó. Bởi khi phá hủy công trình dân sự, kẻ phá hủy sẽ phạm tội ác chiến tranh. Dù hay bốc đồng, ăn nói búa xua, “sáng nắng chiều mưa” nhưng tổng thống Donald Trump là người khôn ngoan, không thể tự biến mình  thành Hitler, phạm tội ác chiến tranh khi đem đến bất hạnh cho dân chúng Iran bằng đạn bom hủy hoại. Phía sau ông là nước Mỹ, một xứ sở tự do, dân chủ, văn minh, quyền con người được tôn trọng.

Ngay cả cả lãnh tụ tôn giáo như Đức giáo hoàng Leo còn lo lắng, cho rằng việc tấn công vào cơ sở hạ tầng dân sự là điều không thể chấp nhận. Chắc chắn dư luận thế giới sẽ lên án Donald Trump. Lịch sử sẽ ghi nhớ…công trạng của ông nhờ xóa sổ một nền văn minh.

Ai cũng không hiểu. Chỉ có mình Trump mới hiểu. Ông mỉm cười trong bụng, ta chỉ “ho” một tiếng mà thế giới phải kinh hoàng. I ran gấp rút OK đàm phán trước thời hạn “xóa sổ” nước họ 90 phút.

Rất may cho thế giới. Rất may cho I ran. Rất may cho nước Mỹ; I ran không thành một Việt Nam. Mỹ sẽ rút khỏi Trung Đông "trong danh dự".

May mắn ấy đến từ sự khôn ngoan bất bình thường của của một tổng thống kỳ quái nhất lịch sử nước Mỹ. Và còn may mắn hơn cho dân tộc I ran, không còn vị cha già Khamenei.

Nếu còn sống, ông sẽ chẳng ngưng chiến. Chắc chắn ông ta sẽ áp dụng phương sách của Mao Trạch Đông “trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi”. Chỉ cần “không thua”, không đầu hàng (dưới mọi hình thức) là I ran đã thắng. Chủ trương của Trump không phải là kéo dài chiến tranh (endless war). I ran sẽ vinh dự là nước thứ hai trên thế giới “đánh bại” một đế quốc "đầu sỏ".

Ngưng chiến là thắng lợi của Mỹ, của I ran, và của bà chủ bán cháo lòng, không phải buộc nâng giá cháo lên nữa; nguy cơ ế khách vì giá cao là nhãn tiền.

(Ảnh trên báo The Economist)