Ở một vùng xa xôi theo địa lý, quê tôi thật là heo hút, những năm sau 1954. Là vùng quê, lẽ sống dựa vào ruộng đồng, rừng núi; việc học hành phải nói là cam khổ. Lúc còn thuộc Pháp, trường học là trường làng.
Thầy dạy là những người có chút vốn chữ Nho, chút tiếng Pháp, và một số vốn quốc ngữ, đủ để “khai hóa” những đứa trẻ đến tuổi “vỡ lòng”. Học phí là những ang lúa (30 lon) trả sau các vụ mùa chứ không phải hằng tháng bằng tiền. Cũng có vài học sinh học...không tiền, không lúa; phụ huynh sẽ làm một số việc nông tang như cuốc đất, cày ruộng, gặt lúa...cho thầy để bù vào học phí của con mình. Rất tự nguyện giữa cha mẹ và thầy giáo. Người dạy thường gọi là ông giáo. Không hề có "bà giáo" (cô). Nếu là tên Lâm, người ta sẽ gọi ông Giáo Lâm. Giáo Liễu, Giáo Xuân, Giáo Nặc, Giáo Cần ...
Người Pháp không chú trọng giáo dục ở nông thôn. Người Việt tự mở lớp cho dân làng. Nhưng để ảnh hưởng Pháp nhiều hơn, họ cũng mở trường ở quê tôi. Nó có tên tiếng Pháp Ecole de Đức Thượng- tên của tổng Đức Thượng năm 1928, có thể nói là rất sớm.
Người dạy là các thầy giúp lễ ở các nhà thờ, có thể là thầy “năm”, thầy “sáu” (số năm tu học)...những người đang trên đường tu có thể sẽ là linh mục. Họ giỏi tiếng Pháp và chữ quốc ngữ. Người dạy đầu tiên ở ecole này thầy Cảnh- người Bình Định, phụ giúp một vị linh mục của giáo xứ gần đó- làng Trúc Hà. Các vị sau đó là ông giáo Xuân (còn gọi là cửu Xuân, ông ngoại của nghệ sĩ Hoài Linh), ông giáo Cần (con trai nhà chí sĩ Lương Thúc Cần) và một vài vị tôi không biết tên. Trường chỉ dạy đến lớp 3 (không phải lớp 3 ngày nay), tương đương với yếu lược. Sau đó họ phải về (quận cũ) Phú Hương cách đó hơn 10 km để học các lớp có thể thi primaire (hết cấp 1).
Học sinh đậu primaire rất hiếm chứ không phải rất ít. Người Pháp muốn hạn chế việc học hành của người An Nam. Hạn chế làm số người đỗ tiểu học rất ít và rất giỏi. Cả huyện hay mấy huyện mới có một người đậu trung học, gọi là diplome. Ai đậu tú tài sẽ được huyện cử người kiệu họ về làng cùng với sự đón rước trọng thể. Gia đình có người đỗ mổ trâu thết làng. Ông Nguyễn Mênh người làng tôi có vinh dự như thế. Ông đỗ tú tài năm 1939. Sau, ông làm đến chức phó tỉnh trưởng.
Sau 1954, chính thể VNCH chú trọng việc mở trường ở cái vùng quê hẻo lánh chúng tôi. Ban đầu là trường tiểu học Lộc Bình- ngôi trường duy nhất của một đơn vị hành chánh sau này là quận Thường Đức. Thời gian sau độ năm 1959 thì có thêm một ngôi trường nữa với tên gọi trường tiểu học Trung Đạo. Ngôi trường lấy tên làng tôi dù nhận học sinh từ nhiều làng khác nhau (tới 8 làng lận).
Trường tiểu học kiên cố xây trên dải đất rộng chừng một hectare, mặt nhìn ra trục đường chính đi về đồn An Điềm (sau này là trại cải tạo cùng tên), sau lưng là cánh đồng lúa mênh mông. Hông trường một bên giáp nhà dân; bên còn lại cũng là cánh đồng. Ở vị trí như thế, ngôi trường lợp ngói có năm phòng luôn luôn thông thoáng vì có gió thổi lồng lộng của cánh đồng lúa bao la.
Trường dành phòng giữa làm nơi nghỉ giải lao của thầy (không hề có cô từ lúc thành lập cho đến khi trường “giải tán”). Bốn phòng còn lại dành cho các lớp từ lớp tư đến lớp nhất (tức lớp 2 đến lớp 5). Những năm trước 1963 còn duy trì các kỳ thi tiểu học.
Số học sinh ít dần khi lên gần kỳ thi tiểu học vì không phải ai cũng có thể lên lớp. Ở lại lớp là chuyện rất thường; chẳng phụ huynh hay học sinh cảm thấy xấu hổ nếu con mình hay học sinh “lưu ban”. Có lưu ban mới có chất lượng học hành. Lớp tư (bậc thấp nhất) thường có sĩ số học sinh trên dưới 60 người. Tuổi học không đồng đều. Có học sinh có vợ vẫn còn cắp vở đến trường. Dù đông nhưng rất trật tự.
Những năm của thập niên 1950, trật tự trong lớp thường được duy trì hiệu quả qua cây roi (bằng sợi mây) của thầy dạy. Quất roi vô mông những học sinh quậy phá hay làm biếng học. Những lằn roi trên mông ở trẻ con chúng tôi không hề là kết quả của sự tức giận của ông thầy- nó là lời nhắc nhở, đậm cái chất “thương cho roi cho vọt”. Có thầy dùng roi nhưng có thầy chẳng dùng, chỉ “ra oai” bằng những cái roi nhịp nhịp trước lớp. “Một cái nhá bằng ba cái đánh”. Học sinh chúng tôi rất nhát đòn.
Tôi nhớ tiểu học (1960-1964) của tôi không có sách giáo khoa. Không rõ ở thành phố, thị trấn thế nào. Đọc chép. Tấm bảng đen to tướng là nơi diễn ra sự học tập. Người thầy phải nói là tội nghiệp. Họ vừa đọc vừa giảng vừa kiểm tra việc học. Các thầy dạy không còn là người có học ở địa phương. Một vài vị thầy các nơi đến dạy. Thế là chuyện cười ra khóc diễn ra.
Một ông thầy người Huế đọc chính tả và học sinh người Quảng chúng tôi viết nửa trang giấy gần như chữ nào cũng sai chính tả. “Đật nược ta thanh bình, trên nhựng cạnh đồng lụa mênh mông, từng đàn cò bay chập chợi, người nông dân hồ hợi gạnh lụa về, lòng hân hoan sung sượng...”. “Xuống dòng phẩy” và chữ phẩy luôn ghi ra chứ không phải dấu phẩy. Chưa kể, lần đầu tiếng chúng tôi biết dấu phẩy là dấu phết!
Chính tả là môn kém nhất của chúng tôi những học sinh người Quảng miền quê. Bây giờ có cả một hai nhà báo có thời đình đám (bị đá về vườn) cũng viết sai chính tả trên facebook; có lẽ do giọng nói xứ tôi nó chẳng giống ai từ thuở mở cõi. Chính sự giao lưu giữa người các vùng miền khiến người Quảng chúng tôi thích nghi và nghe thủng những cách nói của những vùng miền. Cũng may thời đó không có môn ngữ pháp ở bậc tiểu học. Nếu có thì tôi bây giờ hẳn còn mù chữ không đọc nổi a bờ cờ...
Học sinh tiểu học không hề có học thêm. Cũng chẳng ai dạy thêm vì chúng tôi và thầy thời đó không ai hình dung ra “thành tích” là cái gì ở lớp “chùi mũi chưa sạch”. Mỗi tuần nghỉ ngày thứ 5 và chúa nhật, ngày học hai buổi. Trẻ vùng quê thập niên 1960 chủ yếu là chơi nhiều hơn học. Chơi các trò bắn bi, đánh thun, nhảy cò, đánh nẻ (nữ) u mọi, tắm sông, bắn chim, hái (trộm) xoài ổi...là sinh hoạt chung của học sinh.
Thanh bình một làng quê, thanh bình cho một ngôi trường tiểu học. Một ngày, thanh bình chấm dứt và ngôi trường thân yêu của chúng tôi cũng chấm dứt.
Lính quận hành quân bao vây sáng tinh mở mấy căn nhà nghi có Việt Cộng nằm ở đầu làng trơ vơ giữa những cánh đồng ruộng sát trường tiểu học. Một học sinh đi học quá sớm, tò mò quan sát bóng đi xa xa của những người mang súng trong đám sương mờ dày đặc. Em bị bắn nhưng may mắn đạn chỉ phá nát phần giữa bàn chân. Nghe tiếng thét thất thanh những học sinh khác chạy đến. Bạn học lớp tôi ngồi xuống đất vệ đường, máu ra xối xả. Lần đầu tiên trong đời tôi thấy máu người đổ, lại là máu của người bạn cùng lớp nhất với tôi. Sau đó, lính đến, một y tá băng bó cho bạn. Họ gọi xe jeep đưa về bệnh viện.
Đó là những ngày gần cuối của niên học 1963-1964. Máu của một học sinh đã đổ. Ngôi trường thân yêu của chúng tôi bị bỏ hoang. Sinh hoạt học hành buổi thanh bình chuyển thành sinh hoạt chạy giặc thời chiến tranh. Ngôi trường biến mất không rõ vì bom hay vì mìn trong thời gian quê hương tôi đầy máu lửa. Sau năm 1975, ngôi trường chỉ còn sân gạch, vài trụ xi măng hàng hiên, và vài đống đổ nát. Số phận ngôi trường biến số phận của chúng tôi- những học sinh- mỗi người mỗi ngả.
Ngày nay, lũ học sinh chúng tôi đều qua tuổi 73, người còn kẻ mất, người trong nước, kẻ nước ngoài, người thành thị, kẻ nông thôn, cảnh ngộ mỗi người mỗi khác, gặp nhau lần đầu, chúng tôi không thể hình dung lại gương mặt của nhau qua 62 năm cách biệt. Người bạn bị bắn nát bàn chân đến bây giờ tôi vẫn chưa gặp lại; hình ảnh đau thương của bạn gắn liền với hình ảnh bi thương của một ngôi trường, nay, chỉ còn trong ký ức.








