Friday, March 13, 2026

GIỖ

Định nghĩa ngày giỗ khác nhau ở mỗi miền. Đây là cách giải thích chắc chắn từ miền Bắc: “Kể từ năm thứ ba trở đi, ngày giỗ trở thành ngày giỗ thường, còn gọi là cát kỵ. Ngày này được gọi là ngày giỗ lành vì sau hai năm với tiểu tường và đại tường, người khuất đã được cát táng, nghĩa là hài cốt được bốc lên và táng ở một nơi khác”

Ở miền Trung và miền Nam, chôn một lần. Không có cải táng trừ trường hợp vì lý do gì đó. “Sang cát”, cải táng, là phong tục từ lâu đời với quan niệm, làm cho thân thể người đã khuất được sạch. Phong tục bắt nguồn từ thời xưa khi các thương lái người Trung Hoa tử vong ở nơi xa xứ, sau một thời gian người nhà muốn đưa người đã khuất về an nghỉ tại quê nhà. Như vậy, tục “sang cát” ở một số tỉnh miền Bắc xuất phát từ tục lệ người Tàu.

Chết không phải là hết. Nghĩa tử chưa hẳn là nghĩa tận. Giỗ là cách tri ân người đã khuất. Ngày giỗ, do đó, rất quan trọng. Các vùng khác, tôi không rõ. Ở Quảng Nam, giỗ là ngày trọng đại, nhất là giỗ cha hay giỗ mẹ. Trong sinh hoạt truyền thống, ngày giỗ là sự kiện quan trọng nhất trong năm sau Tết nguyên đán.

Tôi từng chứng kiến sự quan trọng của ngày giỗ, nhất là giỗ các bậc sinh thành. Đối với chúng tôi, ai không giỗ cha hay mẹ đều bị người đời khi dễ. Một, nghèo quá, ăn không có lấy đâu giỗ; hai, đủ ăn mà không giỗ là người bất hiếu, dù còn sống, cha mẹ được họ đối xử hết đường hiếu đạo. Tôi thấy nhiều gia đình theo đạo Tin Lành không làm đám giỗ. Nhưng khi cha mẹ còn sống, họ đối xử rất tử tế.

Như vậy, giỗ là một nghi thức dành cho người sống. Nó không phải dành cho người chết. Vì sao? Cha, mẹ chắc chắn không biết hoặc có biết cũng không “hưởng” được gì những vật phẩm trong lễ giỗ.

Các món ăn cho giỗ rất cầu kỳ và đa dạng. Có thể khi sống, cha mẹ chưa hẳn ăn được món cúng đặc biệt này. Món làm theo tục lệ “trong sách”. Sách được in hẳn hoi, giỗ cha cúng những gì; giỗ mẹ những gì. Ở quê, giỏi lắm ông bà chúng tôi ngày xưa ăn mỳ Quảng, bánh tráng cuốn thịt heo, hay “sang” hơn,  gà xé phay trộn rau răm bóp muối tiêu.

Bây giờ, trên mâm cúng, miền Bắc gọi là mâm cỗ (?), không biết bao nhiêu là món ngon vật lạ. Thịt bò ngày xưa chỉ dành cho ai đau ốm: nấu cháo. Nay, trên mâm giỗ có cả thịt bò Kobe Nhật Bản. Ấy là tôi ví dụ. Chắc chắn có những món “đẳng cấp” hơn nhiều.

Rượu cúng ngày xưa là rượu trắng, rượu màu trắng nấu từ gạo. Trắng còn có nghĩa trong trắng. Nay, rượu Tây không thiếu trên mâm giỗ. Nếu ông bà có thể uống được thì xin thưa, họ sẽ say bí tỉ. Rượu “ta” 30 độ là hết tầm. Rượu Tây 45 độ là chuyện thường. Có khi vì ngon, ông bà nốc nhiều, xỉn quắc cần câu, không về được cõi âm, ở lỳ nhà con cái, báo khổ cho chúng, không chừng.

Còn nỗi “áo quần” và vật dụng cho cha, mẹ ngày cúng giỗ. Ta hay gọi đốt vàng mã. Hóa vàng gì đó. Ngày xưa, ông bà chúng ta ăn bận giản dị. Bộ áo bà ba là sang lắm rồi. Dép nhiều nơi không có. Guốc làm bằng gỗ vông (nem).

Bây giờ, ông bà sẽ bận áo dài thêu, khăn đóng, mang hia cao cổ, sang cả. Nón cời thay bằng dù. Tiền xu thay bằng đô la hay tiền Việt, mệnh giá tối thiểu là 200 ngàn; 500 ngàn là “chủ đạo”. Có người còn cúng cả điện thoại di động- Iphone của Mỹ. Hồi xưa, ông bà cuốc bộ thấy mẹ. Nay, có người còn mua cả xe hơi giấy. Tôi không rõ, họ có mua giấy phép lái xe hay không. Mua xe hơi cho ông bà mà thiếu giấy tờ hợp lệ, cảnh sát giao thông xét hỏi, ông bà có khi sẽ bị phạt tiền- biết đâu. Nói chung, sống chẳng biết thế nào, chết hầu bao rủng rỉnh.

Người có điều kiện kinh tế, giỗ đối với họ không đáng kể. Có khi đó là dịp bày tỏ sự giàu có của mình: Giỗ lớn. Có người nhờ giỗ mà bia thùng chất đầy nhà. Rượu ngoại chưng đầy tủ. Ở miền Nam, đi đám giỗ , khách đều mang theo bia (thùng) hoặc rượu ngoại. Nhà quan chức, nhà giàu có, đám giỗ sẽ không bao giờ…hẻo. Có khi là "huy hoàng".

Chỉ ở nông thôn, giỗ mới là nỗi lo, hầu hết của nhiều người. “Lễ” mang theo cúng giỗ thường là đôi chục bánh ít hay chục cái bánh chưng nhỏ (không phải bánh chưng ngoài Bắc). Khá hơn là hộp bánh năm bảy chục ngàn. Khách thường đi rất đầy đủ. Họ thể hiện lòng yêu mến đối với người đã khuất. Nhưng đám giỗ có khi là gánh nặng cho một số gia đình. Sau đám giỗ là nỗi lo “trả nợ”. Giỗ nghèo giàu đều phải “thịnh soạn”. Giỗ dường như là dịp để trả “nợ miệng”. Ăn giỗ của người thì phải mời giỗ nhà mình.

Lâu lắm, tôi mới về sống thời gian khá dài ở quê. Trước đây, kinh tế khó khăn, không ai nghĩ đến giỗ. Ngày nay, nông thôn khá hơn xưa rất nhiều. Nhưng giỗ, tôi cảm nhận, vẫn là gánh nặng cho những gia đình có thu nhập dựa vào hạt lúa.

Ở nông thôn, ai cũng hiểu mọi cái đều dựa vào hạt lúa. Ăn uống: lúa. Đi bệnh viện: lúa. Đóng tiền học phí, học thêm cho con: lúa. Đám cưới, đám ma, đám đầy tháng, thôi nôi: lúa. Tiền cho thuỷ lợi: lúa. Đám giỗ, do đó, cũng: lúa.

Nhà có con cái đi làm công nhân xa như Sài Gòn hay Đà Nẵng thì hạt lúa không cõng nhiều gánh nặng. Nhưng đâu phải ai cũng có con ở độ tuổi lao động làm việc xa. Nhìn những người phụ nữ với chiếc rổ tre, bên trong là vài lọn rau lang, rau muống, hay vài quả mướp, nải chuối…ngồi chen chúc nhau ở ngôi chợ nhỏ làng quê, tôi không khỏi bùi ngùi.

Buổi chợ sớm diễn ra chưa đầy một tiếng rưỡi, có chị nào thất thểu về nhà với số rau, số quả trong rổ vẫn còn? Nếu những người này phải làm đám giỗ, cha hay mẹ, tiền đâu? Nhưng không làm giỗ, họ sẽ bị coi là “bất hiếu”. Giỗ cho người sống ăn. Người chết- cha hay mẹ- không ăn.

Tại sao không giỗ là bất hiếu? Tôi còn biết, có những ngày giỗ trong gia đình, con cái phải tụ họp đông đủ. Có những người con, người cháu làm ăn rất xa – như ở Sài Gòn, chẳng hạn- vẫn về nhà để dự đám giỗ cha, giỗ mẹ. Nghèo thì đi xe hơi, tàu lửa, khá hơn thì đi máy bay. Gấp rút một hai ngày phải trở về nơi làm việc. Nếu ngày giỗ cha hay mẹ, họ không về, bản thân họ rất áy náy. Giỗ cha, giỗ mẹ mà bỏ. Gánh nặng “dư luận” còn đè thêm. Con nhà nọ nhà kia thật bất hiếu. Giỗ cha mẹ mà không thấy về.

Người Việt nói chung, chứ không phải người quê tôi, còn rất coi trọng ngày giỗ. Thật ra, ngày giỗ rất ý nghĩa. Đó là dịp con cháu trong gia đình tụ tập, gặp gỡ, tưởng nhớ các đấng sinh thành, ông bà. Ngày giỗ càng ý nghĩa nếu sự tham dự các thành viên trong nhà không bị ràng buộc bởi thời gian và không gian: gấp rút và xa xôi chưa nói tốn kém. Nhất là gánh nặng tâm lý: có cảm giác bất hiếu khi không có mặt trong ngày trọng đại của gia đình.

Người Việt có bị ảnh hưởng bởi người Tàu không? Tôi chắc chắn là có. Học trò Khổng Tử làm nhà quanh mộ ông trong ba năm để tưởng nhớ thầy. Cái chết trở nên quan trọng. Giỗ để tưởng nhớ người chết vẫn rất quan trọng trong đời sống tinh thần của người Việt Nam.

Tây có giỗ không? Tôi tin là không. Thay vì giỗ họ làm sinh nhật cho cha mẹ. Giỗ cho người sống vui: ăn nhậu, tiệc tùng; người khuất không hưởng thứ gì kể cả ngửi tý mùi nhang. Sinh nhật làm cha mẹ vui. Tại sao người ta lại chú ý giỗ mà không chú ý sinh nhật của các đấng sinh thành? Tục lệ ảnh hưởng người Tàu- nên xem lại. Hãy theo người Tây: sinh nhật. Chính sinh nhật cha mẹ mới có thể uống ly rượu, nhìn bó hoa, ăn món họ thích. Cúng giỗ các vị đứng xa mà ngó. Sinh nhật cho người sống. Giỗ cho người chết. Cái nào mới là hiếu thảo?

Wednesday, February 18, 2026

ĐI CHÙA

Tôi là người công giáo. Mấy chục năm nay, chỗ tôi tới đầu tiên ngày mồng một Tết không phải là nhà thờ mà là nhà chùa dù đạo Thiên Chúa nhiều nơi làm lễ rất sớm ngày đầu năm âm lịch.

Vợ tôi là người “toàn tòng”, theo đạo từ đời ông nội. Tôi theo đạo không phải vì vợ. Nhưng nhà chùa đầu năm còn hấp dẫn tôi hơn cả người yêu (100 năm) là bà vợ.

Vì sao tôi yêu chùa. Câu trả lời khá dài dòng. Đó là bởi giáo dục. Nói cho to lớn nhưng giáo dục ở đây là các trích đoạn tác phẩm văn học, khi tôi bước vào đời, nghĩa là từ đệ thất, bây giờ là lớp 6. Khái Hưng với tác phẩm Hồn Bướm Mơ Tiên là nhà văn khiến tôi yêu chùa. Nếu có trong sách giáo khoa miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tôi chắc chắn học sinh ngoài ấy sẽ yêu ông hơn tác giả của Thép Đã Tôi Thế Đấy.

Ngôi chùa xảy ra một tình yêu sâu đậm mà kín đáo giữa một chàng sinh viên Hà Nội và chú tiểu giả trai tên Lan. Lan gợi nhớ câu chuyện Lan và Điệp trong các vở cải lương miền Nam. Nhưng "chú" Lan ở đây rất nữ tính. Dù là người tu hành giả trai , Lan không thể từ chối tấm lòng yêu thương say đắm của Ngọc.

Kết thúc truyện (Hồn Bướm Mơ Tiên) là những câu văn ngắn của Khái Hưng tả về cảnh lá rơi, lá rụng: chia tay hay chia ly giữa hai tâm hồn trong trắng. Tôi yêu chùa tứ đó. Khái Hưng, một học giả nữ người Nhật nghiên cứu về văn học VN, được đánh giá “tài hoa” hơn Nhất Linh thủ lĩnh của Tự Lực Văn Đoàn với tác phẩm “chính luận” Đoạn Tuyệt dù nó không hay bằng tác phẩm Đôi Bạn. (Tác phẩm hay nhất của ông phải là Bướm Trắng).

Tôi yêu chùa cùng vì Nguyễn Nhược Pháp. Ông có một bài thơ trác tuyệt. Mấy câu thôi, thi sĩ khiến người ta yêu mến nơi tĩnh lặng của một ngôi chùa mùa xuân:

“Hôm nay đi Chùa Hương,

Hoa cỏ mờ hơi sương.

Cùng thầy me em dậy,

Em vấn đầu soi gương.

Khăn nhỏ, đuôi gà cao,

Em đeo dải yếm đào;

Quần lĩnh, áo the mới,

Tay cầm nón quai thao”.

Một cô gái miền Bắc, có thể là cô gái Hà thành.  Chùa là nơi đến thiêng liêng. Vậy mà cô gái tóc đuôi gà (mới lớn) lại  yêu thương trần tục, thầm lặng,  chàng trai mới gặp, đến nỗi mất cả tự tin mình là giai nhân, ngày nào đó sẽ là vị hôn thê:

“Em trước chàng theo sau

Em không dám đi mau

Ngại chàng chê hấp tấp

Số gian nan không giàu

Nhưng  thơ trong sách giáo khoa thời tôi đi học lại khiến tôi yêu chùa khôn tả chỉ với 2 câu: “Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái. Thẫn thờ khe Yến cá nghe kinh” (Chu Mạnh Trinh). Trong rừng đầy mai, chim cúng trái cho cho chùa. Cá lững lờ nghe kinh Phật khi đang bơi lội.

Chắc chắn là ngôi chùa. Chùa Hương. Tôi ao ước mấy chục năm để đến đây. Không hẳn thiếu điều kiện nhưng tôi muốn dành cho mình hình ảnh về ngôi chùa không phai mờ trong sự tưởng tượng và ao ước bấy lâu.

Tôi thấy chỗ này, giáo dục (qua những bài học trong sách giáo khoa) hình thành cảm nhận văn học- nếu không nói là nhân cách- của mỗi con người.

Đó là nguyên do, là người tin Chúa từ tấm bé, tôi vẫn yêu chùa. Và ngày trang trọng nhất của một năm- Mồng Một Tết- tôi đều đi chùa để tận hưởng những gì tôi tìm ra nơi ấy.

Đến chùa vào ngày thiêng liêng và trọng đại nhất trong một năm, quý vị, và tôi thấy sẽ thấy những gì?

- Lòng tin, bên công giáo gọi là đức tin. Số người đến chùa so với số người đến nhà thờ trong những ngày tết, tôi thấy, rất đông, hơn hẳn những người theo đạo (Chúa). Có gì ở chùa thu hút số người nhiều như thế trong mấy ngày thiêng liêng? Không hỏi, nhưng nhìn các thiện nam tín nữ ăn mặc chỉnh tề, đẹp đẽ, gương mặt thành kính, tụ tập vào sân chùa, sảnh chùa, chánh điện, tôi chắc chắn họ đến chùa để tìm sự che chở bình an. Phật độ trì cho họ, cho những người chân thật.

- Tôi không rõ, có ai trong số người chen chúc nhau trong tiếng chuông chùa có nguyện cầu danh lợi giàu sang. Có lẽ không nhiều bằng số người cầu bình an trong năm mới. Bình an là mong ước to lớn của người theo kitô giáo. “Thầy để lại bình an, thầy ban bình an cho các con”. Trước khi chết, chúa Jesus đã nói như thế.

- Cầu vận may. Nhìn các thùng xăm hay các bài giải các quẻ xăm, các bàn có các vị sư giải quẻ, tôi nghĩ, một số người đến chùa để tìm xem trong năm vận hạn họ thế nào. Đây cũng là nguyện vọng đáng tôn trọng. Ai mà không coi trọng vận mệnh của mình trong một năm.

Bên trái  chùa là một  am thờ có người phát xăm gõ chuông khi tín hữu đảnh lễ..

- Ngoạn cảnh. Có lẽ tôi là một trong những người như thế. Vào khuôn viên chùa, quý vị sẽ thấy hoa và hoa. Trên thế gian có gì đẹp hơn hoa? Có thể lan, cúc, mai, ly, cẩm chướng...mỗi nhà mỗi có nhưng chắc chắn không nhiều như ở trong nhà chùa. Đẹp nhất là mai. Mai biểu tượng mùa xuân ở miền Nam. Chùa chưng rất nhiều mai. Hầu hết là do các tu sĩ trong chùa chăm sóc nên mai rất tự nhiên không bị gò bó hay uốn nắn (như bon sai) mất đi vẻ đẹp đất trời của cây mai. Có nhiều loại hoa nhà chùa trồng (chắc chắn chẳng phải mua hay được cúng dường) người thường như tôi chưa hề thấy.

Saturday, February 7, 2026

CÁNH CÒ

Thật sự con cò mới đúng tên. Nhưng khi bay, cò sải cánh, hình ảnh đẹp, không khác hải âu, nên người ta hay gọi cánh cò. Cánh cò gắn liền người nông dân. Ở thành phố hay đô thị nếu không có ruộng đồng bao quanh, chắc chắn chẳng ai thấy cánh cò.

Tôi may mắn đi một số nước tiên tiến châu Âu: Đức, Ý, Pháp, Thụy Điển, Phần Lan...Tuyệt nhiên, tôi không hề thấy cò chứ đừng nói cánh cò. Quạ châu Âu tôi có thấy. Nó có màu nâu và xám bạc không đen tuyền như quạ Việt Nam dù tiếng kêu rất giống nhau. Ở Bá Linh hay Rô Ma tôi không có dịp ra đồng quê nhưng ở Pa ri s tôi có dịp ra khỏi đô thành tráng lệ để chiêm ngắm những cánh đồng lúa  mì xanh ngút, bao la. Và điều kỳ lạ, ở nông thôn vùng họa sĩ Monet sinh sống, khung cảnh hữu tình, cây xanh bát ngát, tôi chẳng thấy lấy bóng dáng một cánh cò.

Hay cò gắn liền với sự cơ khổ, nghèo khó, cam go? Nên chúng không xuất hiện ở những nước giàu có? Ở Việt Nam, cò gắn liền với đời sống cam khổ của người nông dân. Thân phận cò đi vào ca dao hay ca dao ghi nhận thân phận cò? “Con cò lặn lội bờ sông, Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non” (Nguyễn Công Trứ). Ngay cả Tú Xương một người đàn ông ích kỷ ăn chơi vẫn cảm thương người vợ “ Quanh năm buôn bán ở mom sông. Nuôi đủ năm con với một chồng. Lặn lội thân cò khi quãng vắng. Eo sèo mặt nước buổi đò đông”.  Cò còn thua thiệt rất nhiều trong cuộc sống. “Con cò mà đi ăn đêm. Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao. Ông ơi ông vớt tôi nao. Tôi có lòng nào ông cứ xáo măng. Có xáo thì xáo nước trong. Đừng xáo nước đục đau lòng cò con” (Ca dao).

“Đậu phải cành mềm” nghe mà đau xót. Cành mềm là sự rủi ro trong cuộc sống. Cành nào mà cò có thể “lộn cổ”;  chỉ có cành mưu mô xảo quyệt, “lạt mềm buộc chặt”. Cò mới sụp mưu. Nhưng lời khẩn nài “Có xáo thì xáo nước trong. Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”  nghe sao mà thảm thiết. Cò đang bụng mang dạ chửa. Một bà mẹ sắp sinh mà “đậu phải cành mềm”. Xót xa. Quặn thắt..

Cò hay người? Cò mẹ hay người mẹ? Mẹ dù là cò hay người cũng là mẹ: Cưu mang mọi nỗi khổ trần gian.

Tôi chưa đi Trung Hoa- nước “đồng văn đồng chủng” - nhưng tôi chắc chắn cánh cò gắn bó với cuộc sống người Việt Nam chúng ta nhiều hơn gắn bó cuộc sống của người Trung Quốc.

Trong các bức họa cổ, tôi thấy các tác giả Trung Hoa vẽ các loại chim nhưng ít thấy cò, cánh cò. Ở Việt Nam cũng rất ít có tranh vẽ cò. Tôi không hiểu vì sao. Nếu có thì chỉ là những cánh cò xa vắng, nhỏ nhoi, lác đác,  điểm xuyết cho khung cảnh nên thơ khác. Tôi không thấy có bức tranh vẽ cò nào nhìn dáng vẻ là thấy gầy còm kham khổ hanh hao.

Họa sĩ chúng ta ít chú trọng cò từ cổ chí kim. Bởi cò gắn với người nông dân mà không cùng sống với người thành thị- họa sĩ đa phần xuất thân từ chốn phồn hoa.

Không vẽ được cái cơ khổ của thân cò nhưng người nông dân – cụ thể là người nông dân quê tôi (Thường Đức, phía cực Tây Quảng Nam) không bao giờ coi rẻ con cò- cánh cò. Từ thuở xa xưa khi cha tôi năm ba tuổi (nếu còn sống ông sẽ là trên 120 tuổi) không hề nhắc đến có ai ăn thịt cò. Thịt cò rất “khét” (rất khó ăn). Đó là nhận định của người thôn quê chúng tôi. Khi tôi còn nhỏ, thập niên 1950, cò sinh sống rất nhiều, có thể nói là đầy đồng. Chúng làm tổ ở những cánh đồng lác (một loại cây cỏ cao thân dùng làm cói đan giỏ, đệm nằm...). Trẻ con có thể bắt dồng dộc con, chim sẻ con, nhồng con, cưỡng con... để nuôi nhưng không hề bắt cò con về làm vật cảnh. Có lẽ cò có mỏ dài và nhọn, rất nguy hiểm khi mổ. Có người bắt cò lửa (màu vàng đỏ) về nuôi để chúng có thể bắt cá cho người. Và cũng có người bị chúng mổ vào mắt. Trở nên mù,  vì cò nhầm tưởng đó là cá.

Khi cò không phải là thức ăn- nói trắng ra mồi nhậu- thì dân số của chúng phát triển có thể nói là đầy ắp những cánh đồng.

Tôi có nghe nói nhiều nơi ở đâu đó, người ta làm bẫy bắt cò, bằng cách làm những con cò giả y như thật. Cò thấy bầy bèn đáp xuống thế là dính bẫy. Chắc chắn cò sẽ không được đem về nuôi. Chúng sẽ là mồi nhậu- món đặc sản.

Tôi chưa đi khắp thế giới nhưng những nước tôi có tới, chim – không kể chi cò- là phần cuộc sống của họ. Chim không hề là thức ăn, chưa nói là mồi nhậu. Thấy những con chim sẻ như chim sẻ Tàu vẽ trong tranh, rất đẹp, bay đến hiên nhà con gái tìm thức ăn, tôi bèn lấy một ít gạo rải trong các chậu trồng hoa chỉ trơ đất mùa đông. Chim tíu tít bay đến, ngày càng nhiều. Qua cửa kính, tôi thấy chúng rất dạn dĩ. Người có lẽ không là đe dọa cho chim? Chúng vẫn ăn khi tôi đẩy cửa rải thêm cho chúng một ít gạo.

Tôi kể chuyện cho chim ăn với cháu nội, học lớp 4, lòng hãnh diện là “ông” đã cho chim trời ăn. Cháu tôi tròn mắt nhìn “Ồ, ông nội không được cho chim ăn thức ăn không phải dành cho chim trời”. Vì sao? Tôi hỏi. Cháu rỗi rãi giải thích: Ở trường, cô giáo dặn dò chúng con không được cho chim trời ăn ngoài thức ăn bán trong siêu thị. Chim có thể tiêu chảy hoặc nhiễm bệnh nếu ăn phải những thức ăn thừa của người.

Tôi nghĩ mà thương cho những con chim xứ mình. Ngày xưa, có thể chim sẻ đến ăn trên những nong lúa phơi ngoài trời và người ta không buồn đuổi chúng vì lúa chúng ăn không đáng kể bằng số lúa người dân thu về. Cảnh chim sẻ ăn lúa chỉ có trong dĩ vãng lúc tôi còn năm sáu tuổi- hơn 60 năm trước.

Không nói ai cũng hiểu, sau chiến tranh hủy diệt bởi đạn bom của người Mỹ, người Tàu, người Nga, cuộc sống người dân trải qua những tháng ngày cơ khổ vì “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”, thân người còn rẻ rúng huống gì thân cò, phận cò, cánh cò vốn đã khổ trong ca dao trong cuộc sống người nông dân.

Khi chim- ở đây là cò- không còn là mồi nhậu, không còn là thức ăn vô ý thức của con người không ý thức thì cuộc sống con người trở nên ý nghĩa. Đó là khi về quê những tháng ngày này, quý vị nhìn thấy những đàn cò, không phải những con cò, bay lượn trên những cánh đồng xanh mướt. Gió thoảng đưa hơi lạnh mưa phùn cuối đông, những cánh đồng xanh rợn sóng lúa non, điểm những cánh cò trắng phau đem lại hình ảnh nên thơ mấy chục năm trước còn in đậm trong ký ức non trẻ cho đến ngày nay.

Cánh cò mang lại cái tươi tắn cho một vùng quê từng héo hắt bởi chiến tranh - Thường Đức quê tôi.

Cò và người nông dân.

THĂM ÔNG ALFRED NOBEL

Nói cho oai vậy thôi chứ ổng mất đời “tám hoánh” khi tôi chưa ra đời. Nhưng đến Thụy Điển mục đích để  viếng nhà tưởng niệm Nobel là chính- tôi cũng như mọi người trên thế giới. Các giải thưởng- trừ giải Nobel Hòa bình trao ở Na Uy- đều tổ chức ở Stockholm, thủ đô của nước nầy.

Phải nói người phương Tây rất giỏi làm du lịch, nghĩa là rất khôn khéo trong việc moi tiền du khách. Ghé thăm nhà họa sĩ Monet ở Pháp, tôi mới thấy, Việt Nam chúng ta quá “bèo nhèo” trong việc làm du lịch liên quan đến các nghệ nhân, nghệ sĩ, họa sĩ...Các danh họa Việt Nam đâu thua kém mông xừ Monet, kể sơ lược như Nguyễn Phan Chánh, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Lê Phổ, Nguyễn Tử Nghiêm, Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng...

Nhưng có một nhà lưu niệm nào về các vị này không ở Việt Nam như ông Monet ở Pháp?Chúng tôi phải kiếm chỗ đậu xe cả nửa tiếng đồng hồ để vào thăm nơi ông ta ở lúc sinh thời; nghĩa là hàng ngàn chứ không phải hàng trăm du khách, không chỉ ở nước Pháp, mà cả thế giới chen nhau vào xem ngôi vườn và ngôi nhà của ông. Và khi ra về, để làm kỷ niệm tôi mua một chiếc đĩa sứ có in một bức tranh của Monet kèm chữ ký in trên đĩa giá 7 euro (khoảng 210.000 đồng).

Khi vào nhà lưu niệm ông Alfred Nobel, ở Thụy Điển, rút kinh nghiệm “xương máu” ở Pháp, tôi chẳng mua vật kỷ niệm nào ở quầy lưu niệm.Có tiền, tôi sẽ mua quà lưu niệm ở Việt Nam nếu ông Lê Đức Thọ có một nhà lưu niệm nhắc đến  giải thưởng Nobel Hòa Bình 1973, nhận chung cùng ngoại trưởng Hoa Kỳ  Henry Kissinger về thành tích chấm dứt chiến tranh  Việt Nam, một cuộc chiến hơn 58.000  người Mỹ bỏ mạng và chừng 3.000.000 người Việt Nam hy sinh.

Rất ít nhà tưởng niệm hay bảo tàng về danh nhân văn hóa, người Việt Xã Hội Chủ Nghĩa chúng ta có ê hề những nhà tưởng niệm anh hùng liệt sĩ, bảo tàng chiến tranh. Và cũng rất ít cách làm du lịch moi tiền du khách nhờ bảo tàng văn hóa. Vào một nhà tưởng niệm chiến tích hay bảo tàng chiến tranh, nhìn đâu cũng thấy hận thù và chết chóc, ai mà bỏ tiền ra mua vé vào cửa kia chứ.

Chúng tôi bỏ ra mỗi người gần 20 euro (chừng 600 ngàn tiền VN) để mua vé vào thăm nhà lưu niệm Nobel với lòng mong ước, ở nơi đây, tại sao lại có những giải thưởng làm ngất ngây những ai được xét nhận giải thưởng. Có thể một ngày nào đó, tiền thưởng của Vin future cho những người xuất sắc về nhiều lãnh vực sẽ nhiều hơn tiền thưởng giải Nobel, nhưng mấy ai hãnh diện? Vì sao. Vì giải Nobel trao tặng căn cứ vào trí tuệ thật sự chứ không phải trí tuệ “ăn theo”.

Cách trưng bày trong nhà bảo tàng Nobel khá là đơn giản. Bên ngoài là tiệm cà phê kèm thức ăn; kế đó là cửa tiệm bán hàng lưu niệm; bên trong nơi chính diện là các gian phòng trưng bày những gì liên quan đến nhà tổ chức (Nobel) và những nhân vật được trao giải. Có những máy móc tạo thay đổi thế giới từ thuở ban đầu. Qua quan sát, tôi thấy có chiếc máy chụp X quang, một phát minh có lẽ mang lại cho người sáng chế giải Nobel hay chăng? Tôi còn thấy một chiếc máy phát ra tia lazer. Trông rất thô sơ , mới nhìn, tôi cứ nghĩ nó giống một mô tơ xay nước mía, tất nhiên nhiều bộ phận hơn.

“Thấy sang bắt quàng làm họ” không phải là tục ngữ thông thường của người  Việt chúng ta. Cái tẩu thuốc, chiếc gậy chống, chiếc kính lão...những vật dụng thông thường của người nhận giải Nobel được trưng bày ở đây, nơi trang trọng, cho thấy người phương Tây biết quý trọng quá khứ, biết trân trọng những cái tầm thường của những người nổi tiếng. Cái tôi vừa nhắc chính là vật thường dùng của ông tổng thư ký Liên Hiệp quốc Kofi Annan, người châu Phi da đen.

Tôi thích nhất là thấy cuốn sách của nhà văn Chekhov trưng bày ở đây. Tuy không yêu chủ nghĩa cộng sản, không thích  Liên Xô, tôi rất quý mến ông nhà văn người Nga này. Truyện ngắn của ông có thể nói là ngôi sao cho tất cả các truyện ngắn từ tước đến nay của nhân loại.

Alfred Nobel thức tỉnh. Sáng chế chất nổ, sau này giết người, là nỗi ân hận của ông. Giải thưởng lập ra theo di chúc của mình, là để chuộc lại lỗi lầm: Văn minh nhân loại không đồng nghĩa với tình thương con người.

Khi chuẩn bị ra về, tôi tình cờ nhìn một một ghi chú về một nhân vật nổi tiếng thế giới được  nhận giải Nobel người Việt Nam- ông Lê Đức Thọ.

Không thể có người Việt Nam nào từ chối giải Nobel danh giá. Chỉ có một. Ông Lê Đức Thọ.

Ngoại trưởng Mỹ và nhà thương thuyết VN được nhận chung giải Nobel Hòa Bình sau chấm dứt chiến tranh đầy máu đổ cả hai bên.

Kissinger gởi một bức thư cảm ơn ủy ban trao giải hòa bình cho ông và nhà thương thuyết Việt Nam. Ông Lê Đức Thọ đánh một bức điện cho ủy ban xét giải Nobel nói rằng, ông không nhận giải thưởng vì chiến tranh vẫn tiếp diễn bởi Hoa Kỳ, người Mỹ bất tín (!?).

Và chiến tranh chấm dứt năm 1975 khi không còn người Mỹ. Nhưng tại bảo tàng nổi tiếng này vẫn còn ghi nhớ một người Việt Nam không thèm nhận trong hàng trăm người  nhận giải Nobel danh giá nhất thế giới. Ai mới là người muốn duy trì chiến tranh?

MIẾU ÔNG, MIẾU BÀ HAY DINH ÔNG DINH BÀ?

Tôi thường nghe dinh Bà chứ ít nghe miếu Bà. Và miếu Ông mà không phải miếu Bà. Có thể nhiều lý giải về cách gọi này nhưng đó không phải là chủ đích bài viết này.

Những ai sinh ra ở thành phố, từ trước đến nay, miếu Ông, miếu Bà, dinh Ông, dinh Bà là khái niệm xa lạ nếu không nói là chẳng có khái niệm gì. Là người sinh ra ở nông thôn nhưng hơn nửa cuộc đời sống ở thành phố, tôi thấy sự quan trọng của tín ngưỡng, ở đây là thờ Ông, thờ Bà. Con sông, bến nước, cây đa, cây gạo...đều là hình ảnh gợi lên trong tâm trí của người dân sinh sống ở đây một khung cảnh mơ hồ và huyền bí; nhất là những người có tuổi thơ gắn chốn này.

Tôi là một trong những người ấy. Một thời gian dài, người Việt Nam chúng ta bị cuốn hút vào những sự biến lớn lao của đất nước: chiến tranh. Sự sống, cái chết, tàn phá, hủy hoại, bất định cuộc sống ám ảnh tâm hồn mọi người. Hình ảnh nên thơ và huyền bí làng quê trong đó có mái đình, mái chùa, cây đa, cây gạo, và miếu Ông, dinh Bà, nhà thờ tộc, đình trung chẳng là mối quan tâm đối với mọi người. Sống là trên hết chứ không phải hồn quê- gồm những cái tôi nêu-  là trên hết.

Khi chiến tranh chấm dứt, người người trở về quê hương tìm lại nơi chôn nhau cắt rốn, chốn thanh bình, yên tĩnh ngày xưa.

Ban đầu, cái ăn- tức là lẽ sống- ám ảnh mọi người vừa từ các nơi đổ về quê cha đất tổ. Cây đa,cây gạo, mái đình, mái chùa, con sông, bến nước...chẳng có hình bóng gì trong tâm tưởng. Khoai, sắn, bắp, gạo có lúc bo bo... là hình ảnh sáng chói- bởi chúng là lẽ sống.

Chừng hơn vài chục năm sau, những cái ám ảnh người ta không còn ám ảnh nữa. Hình ảnh tâm linh ngày xưa trở về trong tâm trí mọi người nơi làng quê yên ả. Miếu Ông, miếu Bà, dinh Ông, dinh Bà trở thành một phần cao vời trong cuộc sống người dân thôn quê. Qua biến đổi cuộc đời, người ta trở về nơi họ sinh ra. Ông, Bà trở lại hình ảnh ngày xưa: Ban cho họ sự yên bình.

Bên đạo Ki tô, bình an, theo tôi, có lẽ là cốt lõi của tôn giáo này. Vị chăn chiên trước khi chết vì bị hành hình, đã nói “Ta để lại bình an cho các ngươi”. Những người theo đạo này có câu kinh cùng ý “Vinh danh thiên Chúa trên các tầng trời và bình an dưới thế cho người thiện tâm”.

Mấy thế kỷ trước, người Việt Nam không biết đạo Ki tô dù một bộ phận có theo Phật giáo hay Đạo giáo.

Vậy, về tinh thần, người ta dựa vào ai? Chắc chắn là vào ông bà, ở đây có thể viết hoa Ông, Bà, rất trang trọng.

Khi ghé một ngôi làng ở vùng quê gần nơi tôi sinh ra, biết có hai cái miếu, có người gọi là dinh Ông, Bà, tôi và vài người bạn nảy ý tò mò muốn viếng.

Tuesday, December 23, 2025

TRUMP VÀ BẦU CỬ MỸ CÓ LỢI THẾ NÀO CHO CHÍNH NGHĨA CỦA CÁC CHẾ ĐỘ TOÀN TRỊ

Donald Trump lại là thần tượng. Bao giờ thần tượng tan? Lúc đó VN sẽ vững tiến.

(How Trump and the 2020 US Election Are Helping Authoritarians’ Domestic Causes).

Báo the Diplomat.

“Chính quyền Trump tặng các nhà chuyên quyền ba công cụ quan trọng để họ gia cố sức mạnh quốc nội”.

(The Trump administration has gifted autocrats with three key tools for consolidating their strength at home).

Cử tri đoàn Hoa Kỳ vừa khẳng định tổng thống đắc cử Joe Biden. Có người lập luận, chiến thắng của Biden sẽ gây lo âu cho các lãnh đạo chuyên quyền trên khắp thế giới vì ông ta cổ vũ cho chế độ dân chủ và quyền con người, mà tổng thống đương nhiệm Donald Trump xem nhẹ khi đặt quan hệ với các chế độ toàn trị.

Sự thật là chính quyền chống dân chủ sẽ chịu sức ép từ bên ngoài dưới chính quyền Biden, nhưng họ cũng không quá lo lắng. Đó là vì những gì xảy ra trong thời gian Trump làm tổng thống và cuộc bầu cử Mỹ, tất cả đem lại ba lợi ích cho các chính quyền toàn trị ở nước họ.

Cách thức Trump xử lý thất cử của ông cho thấy những yếu kém của thể chế dân chủ, trước đó khó mà lộ ra; nó phơi bày cái thường thấy về người nắm quyền trong các chế độ toàn trị, thậm chí, trong các người chống đối từ trước đến nay; cuộc bầu cử Mỹ, và hậu quả của nó, chứng minh một sự thật: quần chúng rất dễ tin các chiến dịch tuyên truyền thông tin sai sự thật. Đúng vậy, các chính quyền chuyên chế ở các nước châu Á cũng chẳng phải quá lo sợ.

Điều thứ nhất, Trump từ chối không chuyển giao quyền hành, mặc dầu thiếu chứng cứ chứng minh gian lận phiếu bầu. Cái này mang lại cái cơ hội hiếm có cho các nhà toàn trị, cho công chúng thấy, việc lên án bầu cử gian lận và mánh khóe (manipulation) không phải chỉ có ở các chế độ độc tài.

Từ rất lâu, các lãnh đạo chuyên quyền nêu cao cảnh giác “xấu xa xã hội” ở các nước (gọi là) dân chủ, phản bác lại sự ủng hộ mở rộng các quyền tự do dân chủ. Để minh họa, khi tin tức nói về các chống đối trong nước bị kiểm duyệt, vo tròn rất gắt, tuyền thông ở Trung Quốc tường thuật rất kỹ phong trào Người Da Đen Phải Sống (Black Lives Matter); họ lớn tiếng về sự bất công và phân biệt chủng tộc, một thất bại của tự do dân chủ, nước Mỹ là đại diện.

Tự do truyền thông trong các nước dân chủ và sự phát tán dễ dàng các thông tin nhờ internet cho phép các chế độ toàn trị dễ dàng tìm ra các “xấu xa xã hội” của những quốc gia gọi là dân chủ đối với nước họ.

Tuy nhiên, khó khăn không ít cho các lãnh đạo độc tài, muốn thuyết phục quần chúng rằng, các thể chế vững vàng lâu đời cũng có thể mong manh, dễ đổ sụp, dễ bị khai thác như sự cai trị ở chính nước họ. Trump từ chối chuyển giao quyền hành và liên tục lu loa mình thất bại vì cuộc bầu cử bị đánh cắp, bất ngờ tạo điều kiện các lãnh đạo toàn trị có được bằng chứng như thế.

Và có nhiều chính quyền độc tài lợi dụng cơ hội vàng này, để nhấn mạnh rằng, bầu cử như thế ở một nước dân chủ lâu đời (như Mỹ) còn bị dễ dàng khuynh đảo không khác chi dưới chính quyền của họ.

Chắc chắn, quyết định của các chính quyền toàn trị ở châu Á, lần lữa chưa vội chúc mừng Joe Biden, có thể do cân nhắc cẩn thận về mặt ngoại giao, nhưng có thể vì các yếu tố bên trong can dự vào. Yên lặng chậm chúc mừng còn làm dấy lên hồ nghi về tính trong sạch của bầu cử Mỹ.

Chậm chúc mừng còn ngụ ý chính quyền cho rằng, kết quả bầu cử có thể bị đảo ngược. Ví dụ, một số người lập luận, trong khi đợi chúc mừng Biden chiến thắng, truyền thông Việt Nam thường xuyên tường thuật các vụ kiện gian lận bầu cử Mỹ năm 2020, mà không đăng kèm theo các phán quyết của tòa án, cũng như không cắt nghĩa hệ thống bầu cử Mỹ vận hành như thế nào. Điều này sinh ra cái ấn tượng, hệ thống bầu cử Mỹ chẳng chặt chẽ như người ta thường nghĩ.

Điều thứ hai, thái độ công chúng ở các nước toàn trị châu Á phản ứng trước mất mát của Trump, các tuyên bố vô căn cứ của ông về gian lận bầu cử, rất rõ ràng phơi bày cái cách lãnh đạo chính trị cần phải có ở những nước đó (là đúng).

Một bộ phận công chúng lên tiếng ở Việt Nam, Hồng Kông và Trung Quốc mạnh mẽ ủng hộ Trump, một lãnh tụ giống với các nhà lãnh đạo độc tài của họ về nhiều mặt.

Ví dụ, ở Việt Nam, nhiều người ái mộ một lãnh tụ phải mạnh mẽ, “dứt khoát, thu hút và cứng rắn,”; một con người chẳng ai dám đụng tới nếu tấn công các chuẩn mực thể chế. Điều này có thể ngụ ý, nhiều chính phủ độc tài đã thành công trong việc khắc sâu vào xã hội, một nền văn hóa chính trị, ở đó các nhà lãnh đạo cá nhân đứng trên thể chế, được coi là đáng mong muốn.

Các nhà toàn trị ở Trung Quốc, Hong Kong, Việt Nam cũng sẽ thoải mái hiểu rằng, nhiều người bất đồng chính kiến, cổ xúy dân chủ, ủng hộ Trump mặc kệ ông không đoái hoài tới thành tích nhân quyền của mình về trẻ em di cư, “cấm nhập cư người Hồi Giáo”, và chủ trương da trắng thượng đẳng (white supremacy). Điều này ngụ ý, những giá trị các nhà hoạt động dấu tranh dân chủ theo đuổi thực sự không vì nền dân chủ hay quyền con người.

Nhiều người bất đồng chính kiến ở Việt Nam và Hong Kong ủng hộ Trump chỉ vì họ tin, việc thắng cử của ông sẽ làm Trung Quốc yếu đi. Điều đó thật sự cho thấy cái khả năng làm hài lòng các nhà toàn trị: Dân chủ hóa chỉ là mục tiêu thứ yếu đối với tinh thần dân tộc trong tâm trí của những nhà hoạt động đấu tranh. Nó còn cho thấy các nhà toàn trị này chừng mực nào đó đáp ứng các mục tiêu của các người hoạt động tranh đấu mà không sợ mất đi quyền lực.

Điểm cuối cùng, thái độ quần chúng trong các nhà nước chuyên quyền châu Á đối với thất bại của Trump còn cho thấy họ rất dễ tin các thông tin sai lệch, các không tin sai sự thật. Trong khi hai thông tin này có mặt ở Hoa Kỳ, có lợi cho các lãnh đạo chuyên quyền về hai mặt: Thứ nhất, nó cung cấp cho các nhà toàn trị phương sách mới để lũng đoạn dư luận quần chúng liên quan đến các vấn đề nhạy cảm ở trong nước. Thứ hai, nó còn tạo ra sự hỗn loạn, không biết thông tin nào là đúng, thông tin nào không.

Không tin vào truyền thông chính thức của quần chúng dưới chế độ toàn trị có thể khiến quần chúng không còn tin truyền thông chính thức bất kỳ ở đâu, kể cả Hoa Kỳ. Lấy ví dụ, nhiều người dân Việt Nam và người dân Trung Quốc, trong nước hay ngoài nước, đặt niềm tin vào báo Đại Kỷ Nguyên(The Epoch Times- của người Tàu - ND chú thích) hơn là tin vào truyền thông chính thống của Hoa Kỳ để tìm kiếm tin tức về bầu cử Mỹ 2020.

Điều này đem lại bài học cho các chính phủ độc tài, đó là, họ có thể cho phép nguồn truyền thông thay thế, không cho quần chúng biết nguồn gôc xuất xứ của nó từ nhà nước, và thế là, họ có thể lèo lái dư luận quần chúng về các vấn đề nội bộ trong nước, có lợi cho họ.

Thậm chí có một số các người bất đồng chính kiến trong các chế độ toàn trị đang tạo ra hỗn loạn về các thông tin có thật và không có thật. Cái kết là, kiểm soát nghiêm ngặt thông tin, thật khó khăn đối với các người bất đồng chính kiến, không phân biệt đâu là tin thật, đâu là tin giả từ nguồn nước ngoài.

Mặt khác, thật đúng khi họ coi thường sự kiểm soát thông tin của các chính quyền toàn trị, đến nỗi một số người bất đồng chính kiến cổ vũ việc loan truyền tin tức về bầu cử Mỹ, coi đó là cách để xiển dương tự do thông tin. Có trường hợp, vài người bất đồng chính kiến ở Trung Quốc nôn nóng cung cấp thông tin thay thế về cuộc bầu cử, mặc dầu họ biết đó là tin giả.

Tóm lại, nhiệm kỳ tổng thống Trump và cuộc bầu cử Mỹ đem lại lợi ích chính nghĩa cho các chính quyền toàn trị ở nước họ, ít ra là châu Á. Trump từ chối không trao quyền đem lại một cơ hội độc nhất chứng tỏ cho quần chúng thấy rằng các thể chế dân chủ Mỹ rất là yếu kém.

Ngoài ra, phản ứng của quần chúng trước sự mất mát của Trump đem lại các chính quyền toàn trị châu Á, hai chỉ dấu cho biết sự quan trọng để họ tồn tại: (1) bộ phận quần chúng cất tiếng nói mong ước một vị lãnh đạo phải cứng rắn (như Trump) và (2) nhiều người dân dễ dàng tin tưởng thông tin sai lệch, thông tin không đúng sự thật.

Nhiệm kỳ tổng thống Biden có thể tạo ra sức ép bên ngoài lên các chính quyền toàn trị nặng hơn; sức ép ấy có mạnh hơn các điều kiện trong mỗi nước hay không cũng còn chưa rõ. Lịch sử dạy chúng ta thấy, với những yếu tố trong nước thuận lợi, nhiều chính phủ độc tài có thể tồn tại ngay cả trong tình trạng sức ép bên ngoài vẫn mạnh mẽ.

Trương Mai, nghiên cứu sinh tiến sĩ, khoa chính trị, đại học Arizona. Cô còn nghiên cứu các phong trào xã hội, chống đối xã hội, và truyền thông xã hội.

Nguyễn Long Chiến dịch.