Định nghĩa ngày giỗ khác nhau ở mỗi miền. Đây là cách giải thích chắc chắn từ miền Bắc: “Kể từ năm thứ ba trở đi, ngày giỗ trở thành ngày giỗ thường, còn gọi là cát kỵ. Ngày này được gọi là ngày giỗ lành vì sau hai năm với tiểu tường và đại tường, người khuất đã được cát táng, nghĩa là hài cốt được bốc lên và táng ở một nơi khác”
Ở miền Trung và miền Nam, chôn một lần. Không có cải táng trừ trường hợp vì lý do gì đó. “Sang cát”, cải táng, là phong tục từ lâu đời với quan niệm, làm cho thân thể người đã khuất được sạch. Phong tục bắt nguồn từ thời xưa khi các thương lái người Trung Hoa tử vong ở nơi xa xứ, sau một thời gian người nhà muốn đưa người đã khuất về an nghỉ tại quê nhà. Như vậy, tục “sang cát” ở một số tỉnh miền Bắc xuất phát từ tục lệ người Tàu.
Chết không phải là hết. Nghĩa tử chưa hẳn là nghĩa tận. Giỗ là cách tri ân người đã khuất. Ngày giỗ, do đó, rất quan trọng. Các vùng khác, tôi không rõ. Ở Quảng Nam, giỗ là ngày trọng đại, nhất là giỗ cha hay giỗ mẹ. Trong sinh hoạt truyền thống, ngày giỗ là sự kiện quan trọng nhất trong năm sau Tết nguyên đán.
Tôi từng chứng kiến sự quan trọng của ngày giỗ, nhất là giỗ các bậc sinh thành. Đối với chúng tôi, ai không giỗ cha hay mẹ đều bị người đời khi dễ. Một, nghèo quá, ăn không có lấy đâu giỗ; hai, đủ ăn mà không giỗ là người bất hiếu, dù còn sống, cha mẹ được họ đối xử hết đường hiếu đạo. Tôi thấy nhiều gia đình theo đạo Tin Lành không làm đám giỗ. Nhưng khi cha mẹ còn sống, họ đối xử rất tử tế.
Như vậy, giỗ là một nghi thức dành cho người sống. Nó không phải dành cho người chết. Vì sao? Cha, mẹ chắc chắn không biết hoặc có biết cũng không “hưởng” được gì những vật phẩm trong lễ giỗ.
Các món ăn cho giỗ rất cầu kỳ và đa dạng. Có thể khi sống, cha mẹ chưa hẳn ăn được món cúng đặc biệt này. Món làm theo tục lệ “trong sách”. Sách được in hẳn hoi, giỗ cha cúng những gì; giỗ mẹ những gì. Ở quê, giỏi lắm ông bà chúng tôi ngày xưa ăn mỳ Quảng, bánh tráng cuốn thịt heo, hay “sang” hơn, gà xé phay trộn rau răm bóp muối tiêu.
Bây giờ, trên mâm cúng, miền Bắc gọi là mâm cỗ (?), không biết bao nhiêu là món ngon vật lạ. Thịt bò ngày xưa chỉ dành cho ai đau ốm: nấu cháo. Nay, trên mâm giỗ có cả thịt bò Kobe Nhật Bản. Ấy là tôi ví dụ. Chắc chắn có những món “đẳng cấp” hơn nhiều.
Rượu cúng ngày xưa là rượu trắng, rượu màu trắng nấu từ gạo. Trắng còn có nghĩa trong trắng. Nay, rượu Tây không thiếu trên mâm giỗ. Nếu ông bà có thể uống được thì xin thưa, họ sẽ say bí tỉ. Rượu “ta” 30 độ là hết tầm. Rượu Tây 45 độ là chuyện thường. Có khi vì ngon, ông bà nốc nhiều, xỉn quắc cần câu, không về được cõi âm, ở lỳ nhà con cái, báo khổ cho chúng, không chừng.
Còn nỗi “áo quần” và vật dụng cho cha, mẹ ngày cúng giỗ. Ta hay gọi đốt vàng mã. Hóa vàng gì đó. Ngày xưa, ông bà chúng ta ăn bận giản dị. Bộ áo bà ba là sang lắm rồi. Dép nhiều nơi không có. Guốc làm bằng gỗ vông (nem).
Bây giờ, ông bà sẽ bận áo dài thêu, khăn đóng, mang hia cao cổ, sang cả. Nón cời thay bằng dù. Tiền xu thay bằng đô la hay tiền Việt, mệnh giá tối thiểu là 200 ngàn; 500 ngàn là “chủ đạo”. Có người còn cúng cả điện thoại di động- Iphone của Mỹ. Hồi xưa, ông bà cuốc bộ thấy mẹ. Nay, có người còn mua cả xe hơi giấy. Tôi không rõ, họ có mua giấy phép lái xe hay không. Mua xe hơi cho ông bà mà thiếu giấy tờ hợp lệ, cảnh sát giao thông xét hỏi, ông bà có khi sẽ bị phạt tiền- biết đâu. Nói chung, sống chẳng biết thế nào, chết hầu bao rủng rỉnh.
Người có điều kiện kinh tế, giỗ đối với họ không đáng kể. Có khi đó là dịp bày tỏ sự giàu có của mình: Giỗ lớn. Có người nhờ giỗ mà bia thùng chất đầy nhà. Rượu ngoại chưng đầy tủ. Ở miền Nam, đi đám giỗ , khách đều mang theo bia (thùng) hoặc rượu ngoại. Nhà quan chức, nhà giàu có, đám giỗ sẽ không bao giờ…hẻo. Có khi là "huy hoàng".
Chỉ ở nông thôn, giỗ mới là nỗi lo, hầu hết của nhiều người. “Lễ” mang theo cúng giỗ thường là đôi chục bánh ít hay chục cái bánh chưng nhỏ (không phải bánh chưng ngoài Bắc). Khá hơn là hộp bánh năm bảy chục ngàn. Khách thường đi rất đầy đủ. Họ thể hiện lòng yêu mến đối với người đã khuất. Nhưng đám giỗ có khi là gánh nặng cho một số gia đình. Sau đám giỗ là nỗi lo “trả nợ”. Giỗ nghèo giàu đều phải “thịnh soạn”. Giỗ dường như là dịp để trả “nợ miệng”. Ăn giỗ của người thì phải mời giỗ nhà mình.
Lâu lắm, tôi mới về sống thời gian khá dài ở quê. Trước đây, kinh tế khó khăn, không ai nghĩ đến giỗ. Ngày nay, nông thôn khá hơn xưa rất nhiều. Nhưng giỗ, tôi cảm nhận, vẫn là gánh nặng cho những gia đình có thu nhập dựa vào hạt lúa.
Ở nông thôn, ai cũng hiểu mọi cái đều dựa vào hạt lúa. Ăn uống: lúa. Đi bệnh viện: lúa. Đóng tiền học phí, học thêm cho con: lúa. Đám cưới, đám ma, đám đầy tháng, thôi nôi: lúa. Tiền cho thuỷ lợi: lúa. Đám giỗ, do đó, cũng: lúa.
Nhà có con cái đi làm công nhân xa như Sài Gòn hay Đà Nẵng thì hạt lúa không cõng nhiều gánh nặng. Nhưng đâu phải ai cũng có con ở độ tuổi lao động làm việc xa. Nhìn những người phụ nữ với chiếc rổ tre, bên trong là vài lọn rau lang, rau muống, hay vài quả mướp, nải chuối…ngồi chen chúc nhau ở ngôi chợ nhỏ làng quê, tôi không khỏi bùi ngùi.
Buổi chợ sớm diễn ra chưa đầy một tiếng rưỡi, có chị nào thất thểu về nhà với số rau, số quả trong rổ vẫn còn? Nếu những người này phải làm đám giỗ, cha hay mẹ, tiền đâu? Nhưng không làm giỗ, họ sẽ bị coi là “bất hiếu”. Giỗ cho người sống ăn. Người chết- cha hay mẹ- không ăn.
Tại sao không giỗ là bất hiếu? Tôi còn biết, có những ngày giỗ trong gia đình, con cái phải tụ họp đông đủ. Có những người con, người cháu làm ăn rất xa – như ở Sài Gòn, chẳng hạn- vẫn về nhà để dự đám giỗ cha, giỗ mẹ. Nghèo thì đi xe hơi, tàu lửa, khá hơn thì đi máy bay. Gấp rút một hai ngày phải trở về nơi làm việc. Nếu ngày giỗ cha hay mẹ, họ không về, bản thân họ rất áy náy. Giỗ cha, giỗ mẹ mà bỏ. Gánh nặng “dư luận” còn đè thêm. Con nhà nọ nhà kia thật bất hiếu. Giỗ cha mẹ mà không thấy về.
Người Việt nói chung, chứ không phải người quê tôi, còn rất coi trọng ngày giỗ. Thật ra, ngày giỗ rất ý nghĩa. Đó là dịp con cháu trong gia đình tụ tập, gặp gỡ, tưởng nhớ các đấng sinh thành, ông bà. Ngày giỗ càng ý nghĩa nếu sự tham dự các thành viên trong nhà không bị ràng buộc bởi thời gian và không gian: gấp rút và xa xôi chưa nói tốn kém. Nhất là gánh nặng tâm lý: có cảm giác bất hiếu khi không có mặt trong ngày trọng đại của gia đình.
Người Việt có bị ảnh hưởng bởi người Tàu không? Tôi chắc chắn là có. Học trò Khổng Tử làm nhà quanh mộ ông trong ba năm để tưởng nhớ thầy. Cái chết trở nên quan trọng. Giỗ để tưởng nhớ người chết vẫn rất quan trọng trong đời sống tinh thần của người Việt Nam.
Tây có giỗ không? Tôi tin là không. Thay vì giỗ họ làm sinh nhật cho cha mẹ. Giỗ cho người sống vui: ăn nhậu, tiệc tùng; người khuất không hưởng thứ gì kể cả ngửi tý mùi nhang. Sinh nhật làm cha mẹ vui. Tại sao người ta lại chú ý giỗ mà không chú ý sinh nhật của các đấng sinh thành? Tục lệ ảnh hưởng người Tàu- nên xem lại. Hãy theo người Tây: sinh nhật. Chính sinh nhật cha mẹ mới có thể uống ly rượu, nhìn bó hoa, ăn món họ thích. Cúng giỗ các vị đứng xa mà ngó. Sinh nhật cho người sống. Giỗ cho người chết. Cái nào mới là hiếu thảo?











