Wednesday, July 1, 2026

KHAI PHÓNG, NGUY HIỂM QUÁ?

KHAI PHÓNG

(Tâm tư của Cô Lê Bình, giáo viên Văn sau đêm trắng)

“Khai” khi chúng nó mở ra

“Phóng” là bắn mạnh xoà xoà từ trên

Vội vàng tay kéo xéc lên

Amoniac vang rền mùi khai.

….

“Khai” chi một lũ dạy đời

“Phóng” vào lịch sử những lời vô ơn

Giữ gìn bản sắc vẫn hơn

Văn hóa mà mất, Nước còn nổi không?

(Đêm trắng 20/6/2026)

Có một facebooker tên Nguyen Quang Thieu (không phải Nguyễn Quang Thiều, nhà thơ) viết: “Toàn thể Nhân Dân Việt Nam hãy đoàn kết, quyết tâm tẩy chay KHAI PHÓNG  đối với Văn hóa Việt Nam và Giáo dục Việt Nam”. (Chép đúng nguyên văn).

Không hiểu KHAI PHÓNG có phải là tư tưởng của một tổ chức phản động, nhân dân cần phải “tẩy chay”? Và KHAI PHÓNG có phải là nước tiểu hôi hám và bẩn thỉu?  (“Amoniac vang rền mùi khai”).

Với tôi, dân tộc ta muốn “sánh vai với cường quốc năm châu” (1), đất nước cần phải trân quý KHAI PHÓNG.

Nhưng KHAI PHÓNG là gì?

Định nghĩa có nhiều, nhưng theo tôi, khai phóng (hiểu như ngày nay) là tôn trọng sự khác biệt, không bị ràng buộc vì định kiến, luôn luôn học hỏi, sẵn sàng thay đổi khi có bằng chứng mới, và tư duy độc lập nhưng không cực đoan.

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đặt Khai Phóng làm “triết lý” giáo dục (Dân tộc- Nhân bản- Khai phóng).

Khai phóng không phải là sản phẩm tư tưởng “lai căng” du nhập từ nước ngoài.

Tinh thần ( và tư tưởng) khai phóng xuất hiện rất sớm trong lịch sử nước nhà.

Vua Trần Nhân Tông cho đốt danh sách, không bắt tội,  những người đầu hàng, câu kết với giặc sau khi kết thúc cuộc kháng chiến. Lẽ thông thường, những đối tượng ấy cần bị trừng trị để làm gương nhưng vị Phật hoàng ấy: Không muốn khơi lại hận thù sau chiến tranh. Tránh chia rẽ trong triều đình và trong nhân dân. Tạo điều kiện để những người từng lầm đường có cơ hội sửa đổi và cùng xây dựng đất nước.

Ở thế kỷ thứ 13 mà tư tưởng ấy vượt ra ngoài “phép nước”. Đó không phải là tinh thần khai phóng hay sao?

Chu Văn An là một ví dụ cho tinh thần khai phóng. Ông luôn luôn chính trực, dám nói lên điều đúng, lấy đạo đức làm gốc trong giáo dục, có trách nhiệm của người trí thức đối với đất nước, không khuất phục trước quyền lực.

(Theo wikipedia) "ông  là người thầy của mọi thời đại, nhà giáo lỗi lạc của Việt Nam, đã dành cả cuộc đời cho sự nghiệp dạy học, với triết lý giáo dục nhân văn, không phân biệt giàu nghèo, học đi đôi với thực hành, học suốt đời để biết, để làm việc và cống hiến cho xã hội. Tư tưởng đó của ông không những có ảnh hưởng tới nhiều thế hệ người Việt Nam mà còn góp phần phát triển các giá trị nhân văn trong khu vực. Quan điểm giáo dục của ông có những giá trị tiến bộ vượt thời đại, gần gũi với mục đích giáo dục của thế giới hiện nay".

Triều nhà Nguyễn có thể không bị mất đất cho thực dân Pháp nếu cả triều đình Tự Đức nghe theo biểu tấu của Nguyễn Trường Tộ để canh tân đất nước. Trong suy nghĩ thông thường của những nhà Nho trí thức thời phong kiến, Trung Hoa là số một. Các thám hoa, bảng nhãn, tiến sĩ trong hàng ngũ quan lại (tôi chắc có người không biết bảng cửu chương) coi những điều trần của Nguyễn Trường Tộ là “lố bịch”, viển vông. Những đề nghị “khai phóng” của ông bị bỏ mặc: Tổ chức bộ máy nhà nước; phát triển kinh tế (chú trọng thương mại và công nghiệp); cải tổ quân đội, chế tạo vũ khí hiện đại; đổi mới giáo dục (chú trọng khoa học và kỹ thuật); mở rộng quan hệ với các nước để học hỏi tiến bộ.

Nhật Bản cùng hoàn cảnh như Việt Nam thời đó – coi Trung Hoa là thiên triều- nhưng nhờ có tư tưởng khai phóng, họ trở thành một nước phát triển: bởi sớm thoát Trung. Dù bị tan nát sau chiến tranh, chỉ cần hơn hai chục năm, họ có nền kinh tế mạnh thứ hai trên thế giới sau năm bại trận (1945). Nếu không có tinh thần khai phóng, chấp nhận đầu hàng nhục nhã trước kẻ thù, để một “tên mũi lõ” Douglas MacArthur “cai trị” nước mình một thời gian, dân Nhật chắc chắn phải cầm súng chiến đấu chống quân xâm lược Mỹ đến người Nhật cuối cùng.

Và ở Việt Nam, thời đại  Hồ Chí Minh. Nước Pháp sẽ không đánh nhau với nước Việt trong khoảng mười năm khói lửa. Người Mỹ sẽ không bỏ hơn năm mươi tám ngàn sinh mạng trên chiến trường Việt Nam và người Việt Nam cũng không mất đi hàng mấy triệu người vì phải đánh nhau với họ…

Nếu…

Sau ngày tuyên bố độc lập năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã không gởi công hàm (hoặc có mà tôi không biết) đến Cộng hòa Liên Bang Xô Viết (cái nôi đào tạo các vị cách mạng tiền bối cộng sản VN) để xin công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cụ lại gởi nhiều (tám) bức thư cho tổng thống Harry S. Truman của nước Mỹ để yêu cầu nền độc lập của nước mình được công nhận.

Thursday, May 21, 2026

MẤY NGÀY Ở NHÀ THƯƠNG

Con người thường chịu đựng tới một giới hạn nào đó để duy trì ứng xử  ‘phải đạo’ với nhau. Sự chịu đựng này sẽ có “cường độ” khác nhau ở những mối quan hệ tuy giống nhau: có sự khác nhau giữa cha mẹ và con cái; giữa vợ và chồng; giữa anh chị em; giữa những người thân khác trong gia đình. Và sự chịu đựng này thể hiện rất rõ ở…nhà thương (bây giờ người ta hay gọi là bệnh viện).

Giai đoạn sinh lão bệnh tử- ai cũng sẽ trải qua- chi phối con người, nhiều nhất là…giai đoạn bệnh.

Không ai biết mình sẽ bệnh lúc nào nhưng có thể biết vì sao họ bệnh nhưng vẫn muốn bệnh. Đó là một vị trung niên mới qua tuổi 50  nhưng nhìn như ông cụ hom hem trên 60: nước da sạm đen vì gan chai lỳ bởi rượu. Trong một gian phòng chật hẹp kê đủ 6 chiếc giường bệnh và một lối đi nhỏ nên tôi tự nhiên hiểu rõ hoàn cảnh của ông nhờ nằm sát nhau.

“Đù má! (tôi xin lỗi phải nhắc nguyên văn), ỉa thì phải báo chớ ông đổ đầy ra giường thế này làm sao tui dọn?”. Chửi thề dường như rất quen thuộc với một số người miền Nam. Thực cũng hãi hùng. Mùi nước tiểu, mùi nước phân (bệnh nhân đang điều trị tiêu chảy), mùi mồ hôi từ chiếc khăn bàn dùng làm mền bốc lên nồng nặc. Năm bệnh nhân và những người nuôi đều nhăn mặt nhìn chỗ khác. Người phụ nữ tầm dưới 50 vừa dọn vệ sinh cho anh ruột vừa tuôn những tràn chửi bới, mà nêu đủ ra đây, có khi tôi phải mang lấy tội.

Lúc hoàn tất, rửa tay xong, chị hài tội nạn nhân như để chữa thẹn hành động vừa rồi với mọi người chung quanh. “Ổng có tới ba bà vợ; bà nào ở một thời gian cũng bỏ đi vì ổng nhậu nhiều hơn ăn; nhác làm siêng nhậu; bây giờ bác sĩ nói gan chai. Hèn chi, ổng không chịu ăn, chỉ uống chút sữa. Lại còn bướng bỉnh, nói không chịu nghe. Tui cũng gặp thằng chồng in như ổng. Tôi bỏ nó (chồng) hơn 7 năm nay rồi; nay lãnh thêm cục nợ này – vừa nói chị vừa chỉ vào người anh đang nhe răng ra cười, hàm trước còn mấy chiếc đưa ra khỏi môi. “Vô nhà thương lần này là lần thứ sáu- cũng do rượu. Lần nào cũng báo khổ tui”.

Chồng chị cũng đang nằm phòng cấp cứu dưới lầu vì xuất huyết bao tử, ói ra máu, đang được truyền máu. “Sao chị không ở với anh?”. “Mặc xác nó. Có con gái ổng lo (con chung hai người)”. Chị nói ông chồng chị chỉ thích nhậu không thích làm. “Hễ có ai cho ít tiền là ổng đi tìm bạn nhậu. Tui đi mần cực khổ mới có đồng tiền, hớ ra là nó ăn cắp để đi mua rượu”.

Hai người đàn ông nát rượu ấy đi qua giới hạn sự chịu đựng của người đàn bà. Nhưng vì trách nhiệm làm vợ, vì tình nghĩa anh em, người phụ nữ phải tiếp tục cam chịu. Hành vi và thái độ của chị đã không còn ở ngưỡng cam chịu ấy nữa. Hai con người hai bợm rượu. Tại sao không là hai trái tim yêu thương?

Phía góc phòng tôi nằm là giường một cụ bà 73 tuổi, người Quảng Trị (hay Huế gì đó). Bà trông khắc khổ, tóc khô khốc bạc. Bà nằm một mình không người chăm. Thỉnh thoảng người con trai đến với bà đôi ba giờ rồi phải vội vã đi làm. Thấy anh trao đổi công chuyện liên tục qua điện thoại. Người mẹ than đau bụng không đi cầu đã hai hôm. Giọng nhỏ nhẹ qua điện thoại chuyển cường độ, người con quát: “Sao mạ không hỏi bác sĩ lúc sáng? Nói với con làm gì”.

Bà mẹ yên lặng; gương mặt khắc khổ bỗng càng khắc khổ hơn. Lúc con ra  về, bà tâm sự với chúng tôi. Nó (con bà) cất điện thoại trong thời gia tui vô giữ con cho nó. Vợ chồng nó sợ tui gọi về với mấy chị nó ngoài quê than phiền. Trông cho con nó lớn đi học, tui về quê. Ở đây khổ quá. Tôi không rõ ở dây là ở nhà con bà hay ở nhà thương.

Người mẹ sẽ được cư xử tốt hơn nếu không mắc bệnh phải đến nhà thương? Tôi tự hỏi.

Dù phải cắn răng nén nỗi đau bệnh của mình, tôi vẫn thấy mình hạnh phúc hơn cụ bà và cụ ông nằm cạnh. Khi lâm vào sự đau yếu, mỗi người đều có một hoàn cảnh đối xử riêng. Sự chịu đựng của con người luôn có giới hạn. Chỉ có tình yêu thương mới làm con người vượt qua giới hạn của sự chịu đựng.

Tám ngày ở nhà thương, suýt về nước Chúa, (cha đạo đã đến xức dầu Thánh ngày thứ hai), nghe hoàn cảnh hai người ở trên, tôi mới thấy sức chịu đựng của bà xã mình là…vượt giới hạn.

Monday, April 20, 2026

MÓN NGON

Món ngon không hẳn chỉ nổi tiếng, "đặc sản" mới ngon. Món ngon thường tùy khẩu vị, thói quen ăn, đôi khi tùy hoàn cảnh nữa.

Đói quá, ăn cơm nguội độn ngô (bắp) với tương bần, chờ món " mầm đá" của Trạng Quỳnh, vua khen ngon nức nở; nem công chả phượng sao bằng cơm hẩm, tương thiu khi người ta đói.

Hay nổi tiếng như cao lầu Hội An. Nhiều bạn sành ăn người Sài Gòn tôi dẫn đến thưởng thức, nhằm "quảng bá" món đặc sản quê nhà; chưa bước ra khỏi quán, họ cằn nhằn với tôi, "dở ẹc", " cọng mì khô như rơm"; đã toi tiền mời, còn rước thêm tức giận, tôi nghĩ bụng, đến Nguyễn Tuân còn khen, tụi mầy bày đặt chê, đúng là chả sành ăn tí nào.

Giới sành ăn đa phần nam giới. Nữ không phải thua nam trong nghệ thuật ẩm thực. Chẳng qua họ nấu mãi món ngon nên chẳng thấy ngon. Mấy lão đàn ông thường thích phở, thỉnh thoảng trốn ăn cơm nhà, nên ra ngoài, chỗ nào "ngon" họ cũng rành sáu câu, khoái ăn ngon nhờ đó.

Đàn ông thích ăn ngon không phải hiếm, nhưng hiếm người coi cái ăn như là nghệ thuật. Thời xưa, thói phong kiến hình thành trong máu, bao nhiêu đời, nấu ăn là của đàn bà. Khổng Phu Tử: "người quân tử nên xa nơi bếp núc". Nấu ăn chỉ dành cho đàn bà?

Nhưng ngày nay, nấu ăn ngon lại là đàn ông, các khách sạn 5 sao, rất hiếm chef de cousine, bếp trưởng là đàn bà.

Nấu ăn là nghệ thuật mà trong bất kỳ lãnh vực nghệ thuật nào, tính táo bạo đều góp phần sáng tạo các tác phẩm để đời. Phụ nữ có người thông minh, tài hoa, nhưng táo bạo không bằng đàn ông, nấu ăn thiếu "đam mê khám phá", nên món ăn họ nấu rất ngon, nhưng không qua nổi các ông. Thưởng thức món ăn ngon, phụ nữ ít quan tâm, cái họ quan tâm hơn là sắc đẹp và cơ thể.

Ở VN thời xa xưa, ít nhà sử học nào nói đến món ăn, chứ đừng nói món ngon. Trong giới văn nghệ sĩ trước đây, đầu thế kỷ 20, có ít người nói đến hay ca ngợi món ăn, món ngon, ăn ngon.

Gần nhất tôi thấy có Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu nhờ tính "ngông " của thi sĩ. Ông có cả 1 bài viết về ăn ngon, trong đó, 4 yếu tố ông nêu: món ngon, chỗ ngồi ngon, người ăn ngon, và giờ ăn ngon. Và cả một bài dài diễn tả cái ngon đọc mà sốt ruột (văn biền ngẫu lỗi thời), không ngon cũng khen ngon, nếu không kiên nhẫn đọc cho hết bài (tên bài tôi quên, những ai học giảng văn đệ thất tầm 1965, đều có đọc bài này trong sách giáo khoa).

Ăn ngon theo Tản Đà hẳn rất ngon, nhưng tôi thấy còn thiếu vài yếu tố: trong đó, nổi bật nhất là yếu tố yêu thương.

Món tôi thấy ngon vì nó gói gọn yêu thương: mắm cái Quảng Nam. Mắm cái Quảng Nam không phải là món ăn phổ thông ở các vùng khác, chưa nói có ngon hay không, và chưa kể nhiều người không bao giờ dám động đũa chạm vào, dù họ là dân chính gốc Quảng Nam. Chúng tôi thường gọi mắm cá nục là mắm cái. Thật ra mắm cá cơm cũng là mắm cái.

Nhưng đối với tôi, đó là món rất ngon. Mắm cái đồng hành cùng cuộc sống cha mẹ tôi, cùng hàng ngàn dân vùng quê thời xa vắng; mắm "nuôi" tôi lúc hai, ba tuổi, khi bắt đầu biết ăn cơm.

Những con cá nục nhỏ bằng ngón tay, tươi nhanh, no tròn, mẹ tôi chọn mua từ Hội An (bà nói cá Đà Nẵng không ngon bằng) trộn với muối ở tỷ lệ nào đó, đem ủ kín trong một hủ đất nung thật to, một thời gian nhất định. Khi mắm đã "chín" con cá nục không còn là cá, nó là con mắm "đỏ" tươi, nhiều dinh dưỡng trong khẩu phần ăn người nông dân nghèo.

Con mắm ngon phải có màu đỏ tươi, nhìn rất bắt mắt, thấy là muốn ăn cơm, nhưng phải là cơm nóng, nấu từ gạo đầu mùa, có rắc một ít ớt bột cho thêm ngon miệng; mắm có vị vừa ngọt không phải như đường, vừa mặn không phải như muối, và một mùi thơm đặc trưng, chỉ có người Quảng Nam tầm tuổi tôi mới cảm nhận được, bởi đó là mùi vị quê hương, mỗi người chỉ một. Mùi những con mắm mẹ tôi bảo phải "chôn" giữa chén cơm đang nóng, "ăn nóng mới ngon".

Đó là những bữa ăn đơn giản, mắm thay cá biển, quê tôi rất xa biển. Nước của mắm cái sẽ được dầm những chú cá rô nướng nhánh mỡ, vàng ươm, gừng đâm nhỏ với một ít ớt xanh (không phải ớt đỏ). Vào những ngày mùa đông giá rét, lúc tôi 5, 7 tuổi, bữa cơm mắm cái là cá, là thịt của cả gia đình tôi.

Mấy chục năm sau, mắm cái vẫn là món tôi không hề quên trong bữa ăn mỗi tuần một lần, dù con cái ít đứa nào đụng đũa tới. Món ăn thời niên thiếu của bố, chúng đâu thuộc về thời niên thiếu ấy.

Còn một lý do nữa tôi thấy ngon, trong sâu thẳm của ký ức tuổi thơ, mỗi lần vợ tôi gắp mắm ra, nhìn màu hồng tươi của mắm, tôi nhớ lời mẹ, giọng bà luôn ân cần, cái giọng tôi đã quen nghe như thế, trọn cả cuộc đời mình: "ăn cùng với cơm nóng mới ngon".

Không bao giờ tôi có cơ hội để nghe lời dặn đơn sơ ấy nữa. Mắm còn đây, con còn đây, mẹ không còn nữa. Bữa cơm ấm cúng có con mắm nục cùng ăn với mẹ, chỉ còn trong ký ức.

Nhìn con mắm, tôi thầm gọi :"Mẹ, ơi!".

 

Sunday, April 12, 2026

GIÁ TÔ CHÁO LÒNG VÀ CHIẾN TRANH IRAN

“Cho cháu 30 ngàn chú ơi”. “Mọi bữa 25 ngàn, sao nay tăng vậy”. “Xăng lên, vật giá lên, chú thông cảm”. “Đâu có lên mãi đâu, giá xăng xuống rồi mà”, tôi giải thích. “Xăng lên xăng xuống nhưng giá cả thì không” Cô chủ quán đốp chát. Tôi móc bóp trả tiền, và ra về chẳng lấy gì làm vui vẻ. Người dân ngày nay theo dõi thời sự rất sát. Không  phải bật ti vi, họ chỉ cần bấm điện thoại, mọi sự việc trong nước, thế giới đều hiện ra. Chị chủ quán cháo lòng này cũng vậy.

Khi Trump và Iran tuyên bố ngưng chiến dù chỉ hai tuần, cả quán như “vỡ ối”, ý lộn, vỡ òa sung sướng. Ở quán cháo lòng hôm nay, đề tài chính không phải là ai đắc cử chủ tịch nước, ai thủ tướng, ai chủ tịch quốc hội. Mà là Trump, Donald Trump và I ran. Chắc chắn giá xăng dầu sẽ hạ, mọi người trong quán hí hửng hy vọng. Nhưng họ không chắc vật giá sẽ hạ theo. Đã lên thì không xuống đó là quy luật thị trường định hướng XHCN: thịt cá đường sữa gạo dầu…

Cả Mỹ và Iran đều tuyên bố họ chiến thắng. Đối phương phải ngồi vào bàn đàm phán để mở đầu cho việc chấm dứt chiến tranh, khởi đầu là ngưng chiến. Phó tổng thống Mỹ cho rằng cuộc ngưng chiến này mong manh (fragile ceasefire). Tôi thì nghĩ, chẳng mong manh đâu. Sẽ ngưng chiến mãi mãi.

Sau hơn năm tuần Mỹ và “thằng đệ” đánh cho đối phương dập nát; lãnh tụ tinh thần tối cao và hàng chục lãnh đạo ưu tú Iran bỏ mạng. Hệ thống tên lửa bị tiêu diệt 90 %. Máy bay không người lái – thế mạnh của Tehran- bị tàn phá nặng nề, gần như xóa sổ; phòng không đối phương trở về con số không; hải quân hầu hết tàu chiến chìm sâu đáy biển. Kinh tế I ran kiệt quệ.

Vậy mà, tưởng đâu tê liệt, chiến đấu cơ tiên tiến của Mỹ bị bắn hạ. Giải cứu phi công phải trả giá bằng 2 chiếc vận tải cơ khổng lồ, một phi cơ chiến đấu tầm thấp, và 4 chiếc trực thăng. Các nước đồng minh Trung Đông của Mỹ nhận đều đều tên lửa và máy bay không người lái của Iran. Kho xăng, cơ sở sản xuất dầu mỏ lai rai bốc cháy. Giá dầu thô thế giới tăng chóng mặt. Đồng minh ngó lơ khi Hoa Kỳ kêu gọi trợ giúp.

Bên ngoài hùng hổ của tổng thống không che giấu sự lo lắng. Chiến tranh không thể kéo dài đối với Mỹ. Mục tiêu của Hoa Kỳ đạt đến đâu: Dẹp bỏ hiểm họa hạt nhân; tiêu diệt tên lửa đạn đạo; phá hủy nơi chế tạo drone; thay đổi chế độ độc tài thần quyền; triệt phá nguồn hỗ trợ các tổ chức khủng bố nước ngoài. Khai thông eo biển cho dầu qua lại (20% số lượng của thế giới)?

460 ký uranium chỉ cần giấu dưới những hầm đựng rượu, đố ai biết ở đâu. Tên lửa vẫn còn là mối đe dọa. Mỗi ngày “tống” vài quả, cả khu vực dầu mỏ những nước đồng minh của Mỹ lo sốt vó. Chế độ thần quyền còn cứng rắn hơn xưa. Không ai dám xuống đường biểu tình nếu không muốn ăn đạn. Tổ chức khủng bố đàn em (của Iran) vẫn tành tành nã tên lửa vào Israel. Hezbollah  ngoan cố không kém. Eo biển Hormuz vẫn bị đóng. (Ngưng chiến nhưng Israel vẫn đeo theo ném bom, khủng khiếp nhất từ khi bắt đầu chiến tranh ở Liban).

Khi I ran không còn Ali Khamenei , tôi nghĩ tới sự bất lợi của họ. Ông ta là biểu tượng. Lời nói ông ta là mũi tên, ở đâu cũng bắn tới. Khi không còn lãnh tụ, thần quyền mất đi sức mạnh đoàn kết. Không người I ran nào tin tưởng vào một lãnh tụ chẳng hiện diện với đất nước trong tình huống dầu sôi lửa bỏng, hằng ngày đối đầu ác liệt với quân thù.

Nội bộ bất an. Biểu hiện rất rõ khi tổng thống xin lỗi các nước láng giềng vì đã bắn tên lửa vào nước họ thì chỉ huy  Vệ Binh Cách Mạng Hồi giáo vẫn ra lệnh tăng cường tấn công. Thậm chí khi có ngưng chiến với Mỹ, mới đây (theo Reuters) ở thủ đô Tehran người của chính quyền xuống đường với khẩu hiệu “Death to America. Death to Israel. Death to Compromisers”. (Tiêu diệt Mỹ. Tiêu diệt Do Thái. Tiêu diệt bọn thỏa hiệp).

Tổng thống Trump đe dọa sẽ xóa sổ nền văn minh Ba Tư “trong đêm nay” . Cầu đường, nhà máy điện sẽ bị phá hủy hoàn toàn trong 4 giờ. Nếu Iran không đạt thỏa thuận (deal) và eo biển Hormuz không được mở.

Thế giới nín thở theo dõi. Nhưng nếu còn Khamenei tôi chắc ông ta sẽ không sợ sự đe dọa đó. Bởi khi phá hủy công trình dân sự, kẻ phá hủy sẽ phạm tội ác chiến tranh. Dù hay bốc đồng, ăn nói búa xua, “sáng nắng chiều mưa” nhưng tổng thống Donald Trump là người khôn ngoan, không thể tự biến mình  thành Hitler, phạm tội ác chiến tranh khi đem đến bất hạnh cho dân chúng Iran bằng đạn bom hủy hoại. Phía sau ông là nước Mỹ, một xứ sở tự do, dân chủ, văn minh, quyền con người được tôn trọng.

Ngay cả cả lãnh tụ tôn giáo như Đức giáo hoàng Leo còn lo lắng, cho rằng việc tấn công vào cơ sở hạ tầng dân sự là điều không thể chấp nhận. Chắc chắn dư luận thế giới sẽ lên án Donald Trump. Lịch sử sẽ ghi nhớ…công trạng của ông nhờ xóa sổ một nền văn minh.

Ai cũng không hiểu. Chỉ có mình Trump mới hiểu. Ông mỉm cười trong bụng, ta chỉ “ho” một tiếng mà thế giới phải kinh hoàng. I ran gấp rút OK đàm phán trước thời hạn “xóa sổ” nước họ 90 phút.

Rất may cho thế giới. Rất may cho I ran. Rất may cho nước Mỹ; I ran không thành một Việt Nam. Mỹ sẽ rút khỏi Trung Đông "trong danh dự".

May mắn ấy đến từ sự khôn ngoan bất bình thường của của một tổng thống kỳ quái nhất lịch sử nước Mỹ. Và còn may mắn hơn cho dân tộc I ran, không còn vị cha già Khamenei.

Nếu còn sống, ông sẽ chẳng ngưng chiến. Chắc chắn ông ta sẽ áp dụng phương sách của Mao Trạch Đông “trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi”. Chỉ cần “không thua”, không đầu hàng (dưới mọi hình thức) là I ran đã thắng. Chủ trương của Trump không phải là kéo dài chiến tranh (endless war). I ran sẽ vinh dự là nước thứ hai trên thế giới “đánh bại” một đế quốc "đầu sỏ".

Ngưng chiến là thắng lợi của Mỹ, của I ran, và của bà chủ bán cháo lòng, không phải buộc nâng giá cháo lên nữa; nguy cơ ế khách vì giá cao là nhãn tiền.

(Ảnh trên báo The Economist)

Friday, March 13, 2026

GIỖ

Định nghĩa ngày giỗ khác nhau ở mỗi miền. Đây là cách giải thích chắc chắn từ miền Bắc: “Kể từ năm thứ ba trở đi, ngày giỗ trở thành ngày giỗ thường, còn gọi là cát kỵ. Ngày này được gọi là ngày giỗ lành vì sau hai năm với tiểu tường và đại tường, người khuất đã được cát táng, nghĩa là hài cốt được bốc lên và táng ở một nơi khác”

Ở miền Trung và miền Nam, chôn một lần. Không có cải táng trừ trường hợp vì lý do gì đó. “Sang cát”, cải táng, là phong tục từ lâu đời với quan niệm, làm cho thân thể người đã khuất được sạch. Phong tục bắt nguồn từ thời xưa khi các thương lái người Trung Hoa tử vong ở nơi xa xứ, sau một thời gian người nhà muốn đưa người đã khuất về an nghỉ tại quê nhà. Như vậy, tục “sang cát” ở một số tỉnh miền Bắc xuất phát từ tục lệ người Tàu.

Chết không phải là hết. Nghĩa tử chưa hẳn là nghĩa tận. Giỗ là cách tri ân người đã khuất. Ngày giỗ, do đó, rất quan trọng. Các vùng khác, tôi không rõ. Ở Quảng Nam, giỗ là ngày trọng đại, nhất là giỗ cha hay giỗ mẹ. Trong sinh hoạt truyền thống, ngày giỗ là sự kiện quan trọng nhất trong năm sau Tết nguyên đán.

Tôi từng chứng kiến sự quan trọng của ngày giỗ, nhất là giỗ các bậc sinh thành. Đối với chúng tôi, ai không giỗ cha hay mẹ đều bị người đời khi dễ. Một, nghèo quá, ăn không có lấy đâu giỗ; hai, đủ ăn mà không giỗ là người bất hiếu, dù còn sống, cha mẹ được họ đối xử hết đường hiếu đạo. Tôi thấy nhiều gia đình theo đạo Tin Lành không làm đám giỗ. Nhưng khi cha mẹ còn sống, họ đối xử rất tử tế.

Như vậy, giỗ là một nghi thức dành cho người sống. Nó không phải dành cho người chết. Vì sao? Cha, mẹ chắc chắn không biết hoặc có biết cũng không “hưởng” được gì những vật phẩm trong lễ giỗ.

Các món ăn cho giỗ rất cầu kỳ và đa dạng. Có thể khi sống, cha mẹ chưa hẳn ăn được món cúng đặc biệt này. Món làm theo tục lệ “trong sách”. Sách được in hẳn hoi, giỗ cha cúng những gì; giỗ mẹ những gì. Ở quê, giỏi lắm ông bà chúng tôi ngày xưa ăn mỳ Quảng, bánh tráng cuốn thịt heo, hay “sang” hơn,  gà xé phay trộn rau răm bóp muối tiêu.

Bây giờ, trên mâm cúng, miền Bắc gọi là mâm cỗ (?), không biết bao nhiêu là món ngon vật lạ. Thịt bò ngày xưa chỉ dành cho ai đau ốm: nấu cháo. Nay, trên mâm giỗ có cả thịt bò Kobe Nhật Bản. Ấy là tôi ví dụ. Chắc chắn có những món “đẳng cấp” hơn nhiều.

Rượu cúng ngày xưa là rượu trắng, rượu màu trắng nấu từ gạo. Trắng còn có nghĩa trong trắng. Nay, rượu Tây không thiếu trên mâm giỗ. Nếu ông bà có thể uống được thì xin thưa, họ sẽ say bí tỉ. Rượu “ta” 30 độ là hết tầm. Rượu Tây 45 độ là chuyện thường. Có khi vì ngon, ông bà nốc nhiều, xỉn quắc cần câu, không về được cõi âm, ở lỳ nhà con cái, báo khổ cho chúng, không chừng.

Còn nỗi “áo quần” và vật dụng cho cha, mẹ ngày cúng giỗ. Ta hay gọi đốt vàng mã. Hóa vàng gì đó. Ngày xưa, ông bà chúng ta ăn bận giản dị. Bộ áo bà ba là sang lắm rồi. Dép nhiều nơi không có. Guốc làm bằng gỗ vông (nem).

Bây giờ, ông bà sẽ bận áo dài thêu, khăn đóng, mang hia cao cổ, sang cả. Nón cời thay bằng dù. Tiền xu thay bằng đô la hay tiền Việt, mệnh giá tối thiểu là 200 ngàn; 500 ngàn là “chủ đạo”. Có người còn cúng cả điện thoại di động- Iphone của Mỹ. Hồi xưa, ông bà cuốc bộ thấy mẹ. Nay, có người còn mua cả xe hơi giấy. Tôi không rõ, họ có mua giấy phép lái xe hay không. Mua xe hơi cho ông bà mà thiếu giấy tờ hợp lệ, cảnh sát giao thông xét hỏi, ông bà có khi sẽ bị phạt tiền- biết đâu. Nói chung, sống chẳng biết thế nào, chết hầu bao rủng rỉnh.

Người có điều kiện kinh tế, giỗ đối với họ không đáng kể. Có khi đó là dịp bày tỏ sự giàu có của mình: Giỗ lớn. Có người nhờ giỗ mà bia thùng chất đầy nhà. Rượu ngoại chưng đầy tủ. Ở miền Nam, đi đám giỗ , khách đều mang theo bia (thùng) hoặc rượu ngoại. Nhà quan chức, nhà giàu có, đám giỗ sẽ không bao giờ…hẻo. Có khi là "huy hoàng".

Chỉ ở nông thôn, giỗ mới là nỗi lo, hầu hết của nhiều người. “Lễ” mang theo cúng giỗ thường là đôi chục bánh ít hay chục cái bánh chưng nhỏ (không phải bánh chưng ngoài Bắc). Khá hơn là hộp bánh năm bảy chục ngàn. Khách thường đi rất đầy đủ. Họ thể hiện lòng yêu mến đối với người đã khuất. Nhưng đám giỗ có khi là gánh nặng cho một số gia đình. Sau đám giỗ là nỗi lo “trả nợ”. Giỗ nghèo giàu đều phải “thịnh soạn”. Giỗ dường như là dịp để trả “nợ miệng”. Ăn giỗ của người thì phải mời giỗ nhà mình.

Lâu lắm, tôi mới về sống thời gian khá dài ở quê. Trước đây, kinh tế khó khăn, không ai nghĩ đến giỗ. Ngày nay, nông thôn khá hơn xưa rất nhiều. Nhưng giỗ, tôi cảm nhận, vẫn là gánh nặng cho những gia đình có thu nhập dựa vào hạt lúa.

Ở nông thôn, ai cũng hiểu mọi cái đều dựa vào hạt lúa. Ăn uống: lúa. Đi bệnh viện: lúa. Đóng tiền học phí, học thêm cho con: lúa. Đám cưới, đám ma, đám đầy tháng, thôi nôi: lúa. Tiền cho thuỷ lợi: lúa. Đám giỗ, do đó, cũng: lúa.

Nhà có con cái đi làm công nhân xa như Sài Gòn hay Đà Nẵng thì hạt lúa không cõng nhiều gánh nặng. Nhưng đâu phải ai cũng có con ở độ tuổi lao động làm việc xa. Nhìn những người phụ nữ với chiếc rổ tre, bên trong là vài lọn rau lang, rau muống, hay vài quả mướp, nải chuối…ngồi chen chúc nhau ở ngôi chợ nhỏ làng quê, tôi không khỏi bùi ngùi.

Buổi chợ sớm diễn ra chưa đầy một tiếng rưỡi, có chị nào thất thểu về nhà với số rau, số quả trong rổ vẫn còn? Nếu những người này phải làm đám giỗ, cha hay mẹ, tiền đâu? Nhưng không làm giỗ, họ sẽ bị coi là “bất hiếu”. Giỗ cho người sống ăn. Người chết- cha hay mẹ- không ăn.

Tại sao không giỗ là bất hiếu? Tôi còn biết, có những ngày giỗ trong gia đình, con cái phải tụ họp đông đủ. Có những người con, người cháu làm ăn rất xa – như ở Sài Gòn, chẳng hạn- vẫn về nhà để dự đám giỗ cha, giỗ mẹ. Nghèo thì đi xe hơi, tàu lửa, khá hơn thì đi máy bay. Gấp rút một hai ngày phải trở về nơi làm việc. Nếu ngày giỗ cha hay mẹ, họ không về, bản thân họ rất áy náy. Giỗ cha, giỗ mẹ mà bỏ. Gánh nặng “dư luận” còn đè thêm. Con nhà nọ nhà kia thật bất hiếu. Giỗ cha mẹ mà không thấy về.

Người Việt nói chung, chứ không phải người quê tôi, còn rất coi trọng ngày giỗ. Thật ra, ngày giỗ rất ý nghĩa. Đó là dịp con cháu trong gia đình tụ tập, gặp gỡ, tưởng nhớ các đấng sinh thành, ông bà. Ngày giỗ càng ý nghĩa nếu sự tham dự các thành viên trong nhà không bị ràng buộc bởi thời gian và không gian: gấp rút và xa xôi chưa nói tốn kém. Nhất là gánh nặng tâm lý: có cảm giác bất hiếu khi không có mặt trong ngày trọng đại của gia đình.

Người Việt có bị ảnh hưởng bởi người Tàu không? Tôi chắc chắn là có. Học trò Khổng Tử làm nhà quanh mộ ông trong ba năm để tưởng nhớ thầy. Cái chết trở nên quan trọng. Giỗ để tưởng nhớ người chết vẫn rất quan trọng trong đời sống tinh thần của người Việt Nam.

Tây có giỗ không? Tôi tin là không. Thay vì giỗ họ làm sinh nhật cho cha mẹ. Giỗ cho người sống vui: ăn nhậu, tiệc tùng; người khuất không hưởng thứ gì kể cả ngửi tý mùi nhang. Sinh nhật làm cha mẹ vui. Tại sao người ta lại chú ý giỗ mà không chú ý sinh nhật của các đấng sinh thành? Tục lệ ảnh hưởng người Tàu- nên xem lại. Hãy theo người Tây: sinh nhật. Chính sinh nhật cha mẹ mới có thể uống ly rượu, nhìn bó hoa, ăn món họ thích. Cúng giỗ các vị đứng xa mà ngó. Sinh nhật cho người sống. Giỗ cho người chết. Cái nào mới là hiếu thảo?

Wednesday, February 18, 2026

ĐI CHÙA

Tôi là người công giáo. Mấy chục năm nay, chỗ tôi tới đầu tiên ngày mồng một Tết không phải là nhà thờ mà là nhà chùa dù đạo Thiên Chúa nhiều nơi làm lễ rất sớm ngày đầu năm âm lịch.

Vợ tôi là người “toàn tòng”, theo đạo từ đời ông nội. Tôi theo đạo không phải vì vợ. Nhưng nhà chùa đầu năm còn hấp dẫn tôi hơn cả người yêu (100 năm) là bà vợ.

Vì sao tôi yêu chùa. Câu trả lời khá dài dòng. Đó là bởi giáo dục. Nói cho to lớn nhưng giáo dục ở đây là các trích đoạn tác phẩm văn học, khi tôi bước vào đời, nghĩa là từ đệ thất, bây giờ là lớp 6. Khái Hưng với tác phẩm Hồn Bướm Mơ Tiên là nhà văn khiến tôi yêu chùa. Nếu có trong sách giáo khoa miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tôi chắc chắn học sinh ngoài ấy sẽ yêu ông hơn tác giả của Thép Đã Tôi Thế Đấy.

Ngôi chùa xảy ra một tình yêu sâu đậm mà kín đáo giữa một chàng sinh viên Hà Nội và chú tiểu giả trai tên Lan. Lan gợi nhớ câu chuyện Lan và Điệp trong các vở cải lương miền Nam. Nhưng "chú" Lan ở đây rất nữ tính. Dù là người tu hành giả trai , Lan không thể từ chối tấm lòng yêu thương say đắm của Ngọc.

Kết thúc truyện (Hồn Bướm Mơ Tiên) là những câu văn ngắn của Khái Hưng tả về cảnh lá rơi, lá rụng: chia tay hay chia ly giữa hai tâm hồn trong trắng. Tôi yêu chùa tứ đó. Khái Hưng, một học giả nữ người Nhật nghiên cứu về văn học VN, được đánh giá “tài hoa” hơn Nhất Linh thủ lĩnh của Tự Lực Văn Đoàn với tác phẩm “chính luận” Đoạn Tuyệt dù nó không hay bằng tác phẩm Đôi Bạn. (Tác phẩm hay nhất của ông phải là Bướm Trắng).

Tôi yêu chùa cùng vì Nguyễn Nhược Pháp. Ông có một bài thơ trác tuyệt. Mấy câu thôi, thi sĩ khiến người ta yêu mến nơi tĩnh lặng của một ngôi chùa mùa xuân:

“Hôm nay đi Chùa Hương,

Hoa cỏ mờ hơi sương.

Cùng thầy me em dậy,

Em vấn đầu soi gương.

Khăn nhỏ, đuôi gà cao,

Em đeo dải yếm đào;

Quần lĩnh, áo the mới,

Tay cầm nón quai thao”.

Một cô gái miền Bắc, có thể là cô gái Hà thành.  Chùa là nơi đến thiêng liêng. Vậy mà cô gái tóc đuôi gà (mới lớn) lại  yêu thương trần tục, thầm lặng,  chàng trai mới gặp, đến nỗi mất cả tự tin mình là giai nhân, ngày nào đó sẽ là vị hôn thê:

“Em trước chàng theo sau

Em không dám đi mau

Ngại chàng chê hấp tấp

Số gian nan không giàu

Nhưng  thơ trong sách giáo khoa thời tôi đi học lại khiến tôi yêu chùa khôn tả chỉ với 2 câu: “Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái. Thẫn thờ khe Yến cá nghe kinh” (Chu Mạnh Trinh). Trong rừng đầy mai, chim cúng trái cho cho chùa. Cá lững lờ nghe kinh Phật khi đang bơi lội.

Chắc chắn là ngôi chùa. Chùa Hương. Tôi ao ước mấy chục năm để đến đây. Không hẳn thiếu điều kiện nhưng tôi muốn dành cho mình hình ảnh về ngôi chùa không phai mờ trong sự tưởng tượng và ao ước bấy lâu.

Tôi thấy chỗ này, giáo dục (qua những bài học trong sách giáo khoa) hình thành cảm nhận văn học- nếu không nói là nhân cách- của mỗi con người.

Đó là nguyên do, là người tin Chúa từ tấm bé, tôi vẫn yêu chùa. Và ngày trang trọng nhất của một năm- Mồng Một Tết- tôi đều đi chùa để tận hưởng những gì tôi tìm ra nơi ấy.

Đến chùa vào ngày thiêng liêng và trọng đại nhất trong một năm, quý vị, và tôi thấy sẽ thấy những gì?

- Lòng tin, bên công giáo gọi là đức tin. Số người đến chùa so với số người đến nhà thờ trong những ngày tết, tôi thấy, rất đông, hơn hẳn những người theo đạo (Chúa). Có gì ở chùa thu hút số người nhiều như thế trong mấy ngày thiêng liêng? Không hỏi, nhưng nhìn các thiện nam tín nữ ăn mặc chỉnh tề, đẹp đẽ, gương mặt thành kính, tụ tập vào sân chùa, sảnh chùa, chánh điện, tôi chắc chắn họ đến chùa để tìm sự che chở bình an. Phật độ trì cho họ, cho những người chân thật.

- Tôi không rõ, có ai trong số người chen chúc nhau trong tiếng chuông chùa có nguyện cầu danh lợi giàu sang. Có lẽ không nhiều bằng số người cầu bình an trong năm mới. Bình an là mong ước to lớn của người theo kitô giáo. “Thầy để lại bình an, thầy ban bình an cho các con”. Trước khi chết, chúa Jesus đã nói như thế.

- Cầu vận may. Nhìn các thùng xăm hay các bài giải các quẻ xăm, các bàn có các vị sư giải quẻ, tôi nghĩ, một số người đến chùa để tìm xem trong năm vận hạn họ thế nào. Đây cũng là nguyện vọng đáng tôn trọng. Ai mà không coi trọng vận mệnh của mình trong một năm.

Bên trái  chùa là một  am thờ có người phát xăm gõ chuông khi tín hữu đảnh lễ..

- Ngoạn cảnh. Có lẽ tôi là một trong những người như thế. Vào khuôn viên chùa, quý vị sẽ thấy hoa và hoa. Trên thế gian có gì đẹp hơn hoa? Có thể lan, cúc, mai, ly, cẩm chướng...mỗi nhà mỗi có nhưng chắc chắn không nhiều như ở trong nhà chùa. Đẹp nhất là mai. Mai biểu tượng mùa xuân ở miền Nam. Chùa chưng rất nhiều mai. Hầu hết là do các tu sĩ trong chùa chăm sóc nên mai rất tự nhiên không bị gò bó hay uốn nắn (như bon sai) mất đi vẻ đẹp đất trời của cây mai. Có nhiều loại hoa nhà chùa trồng (chắc chắn chẳng phải mua hay được cúng dường) người thường như tôi chưa hề thấy.