Sunday, October 19, 2025

MÙI LÚA CHÍN

Hạt cơm chúng ta ăn mỗi ngày là từ hạt lúa. Người ta nói chuối chín, mít chín, ổi chín. Ít ai nói lúa chín. Cùng lắm là câu “lúa chín  cúi  đầu”. Chín trong ý nghĩa hoàn bích, trọn vẹn, đủ đầy. Người nông dân biết lúa chín. Họ biết mùi lúa chín. Không như tôi, họ cảm nhận mà không nói về mùi lúa chín. Cuộc đời họ, cuộc đời cây lúa, tuy hai mà một và tuy một mà hai.

Mùi lúa chín không hẳn là lúa mẩy hạt, sắp thu hoạch. Mùi lúa khi bông lúa mãn khai như mùi của người mẹ trẻ sắp sinh con. Mùi thiêng liêng tình mẹ. Đi qua những cánh đồng lúa bông bắt đầu nhú, gọi là trổ đòng, mùi lúa bắt đầu chín. Nếu để ý, chúng ta sẽ cảm nhận, lúa có những giai đoạn, có mùi thơm khác nhau.

Khi mạ cắm xuống đồng – ngày xưa- hay lúa gieo cao chừng một gang tay- như ngày nay- lúa có mùi mạ non. Mạ non là những cây lúa trẻ, có tên gọi nữa là má. Bắt má: gieo hạt xuống đất cho lúa nẩy mầm. Nhổ má khi đủ tuổi đặt xuống đồng. Mạ, má...Tại sao lúa con lại có tên của mẹ? Cây lúa là lẽ sống con người. Má, Mạ, Mẹ là chỗ sinh ra con người. Mạ non. Nhìn cánh đồng toàn mạ non, trong nắng mai, hay buổi chiều tà, gió làm gợn những con sóng mạ non. Nếu có sự mềm mại thì đó là sự mềm mại của mạ non. Mùi mạ non như mùi tóc của mẹ. Thoang thoảng, dìu dịu, nhè nhẹ. Tôi không thêu dệt. Quý vị hãy vui lòng bỏ ít thời gian đi qua vùng mạ non. Cái mùi tôi tả sẽ không bằng cái mùi quý vị cảm nhận.

Khi cây lúa chuyển qua thời phát triển, người nông dân gọi là lúa đương thì con gái. Gái đương thì xinh đẹp bao nhiêu thì cây lúa đương thì đẹp đẽ bấy nhiêu. Cây mạ non trở thành cô con gái. Lúc này, cây lúa cao như sợ không kịp cao. Thế là một mùi hương toát ra từ lúa đương thì. Mùi hương của người con gái đi vào tuổi xuân thì. Cây lúa là như thế.

Khi làm đòng, cây lúa như cô gái có chồng, bụng lúa tròn mẩy. Lúa mượt mà như da thịt người con gái hình thành một hài nhi trong dạ. Lúc này, lúa không tiết ra mùi hương. Lúa dành trọn hương hoa cho những hạt bông lúa tượng hình. “ Lúa chiêm lấp ló bên bờ. Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”. Khi khí trời tràn ngập, có mưa, có dông, lúa bung bông như người khai hoa nở nhụy.

Lúc này lúa sẽ có mùi như người mẹ vừa sinh con. Mồ hôi và sữa mẹ. Mùi của lúa trỗ bông. Từ đây, khi hạt bắt đầu tượng sữa, một chất lỏng trắng đục hình thành trong từng hạt lúa. Rồi lúa ngậm sữa mỗi ngày nhờ ánh sáng, nhờ khí trời, nhờ nuôi dưỡng của đất, tưới tắm của nước, những hạt lúa tròn trịa, giai đoạn mấy hạt. Lúc này, lúa có mùi không? Thưa có. Mùi lúa chín. Chiều nay, đi qua những cánh đồng, trên con đường quanh co – sao quê hương tôi, con đường luôn quanh co- tôi ngửi ra mùa lúa chín. Mấy chục năm trước, tôi không để ý, lúa chín lại có mùi như thế. Tuy không nhớ nhưng tôi thấy mùi lúa chín, nó quen thân quá, nó gần gũi quá, nó như là tuổi thơ của tôi.

Mùi lúa chín không giống mùi rạ- cây lúa đã cho hạt, phơi đầy đồng. Mùi lúa chín không như mùi rạ đốt đồng. Mùi lúa chín không như mùi mạ non. Nó là mùi của sự sống. Mùi của tương lai. Không có mùi lúa chín sẽ không có cơm ăn mỗi ngày. Mùi lúa chín không thơm như hoa hồng, không dịu như hoa lài, không nồng nàn như hoa ngọc lan. Mùi lúa chín chất phát, đơn sơ và giản dị.

Không hẳn là người từ vùng lúa mà tôi ca ngợi mùi lúa. Nhưng mỗi lần về quê vào mùa ruộng đồng phủ một màu xanh mướt, hai bên đường quê, kéo dài ngút mắt, tôi cảm nhận mùi cây lúa, từ khi còn non cho tới trưởng thành. Ngất ngây trong không gian thoang thoảng mùi lúa chín, tôi tự hỏi, mùi lúa có phải là mùi quê hương?

LẠI CHUYỆN CHIẾC CẦU

Nhân chuyện chiếc cầu, tản mạn về lịch sử.

Ở đời, cái gì mất mát thì được chú ý nhiều hơn còn nguyên vẹn. Chẳng hạn, chiếc cầu Hà Tân quê tôi, Thường Đức, Quảng Nam. Cơn lũ bất ngờ mùa hạ từ đầu nguồn đổ  xuống, giật sập một vày cầu. Và may mắn là dầm cầu (hộp) lại còn nguyên vẹn. Chính quyền xã (mới) Thượng Đức đã cho xe trục vớt dầm cầu đặt lại vị trí cũ sau khi gia cố mố cầu. Khi có người tìm hiểu cầu xây lúc nào mà vật liệu bao năm tháng vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt” thì chẳng có tư liệu nào hay vị trưởng lão nào nhớ chắc chắn thời gian cầu được xây.

Đối với quê tôi, chiếc cầu Hà Tân rất là quan trọng. Nó giúp cho sự đi lại dễ dàng của dân chúng sinh sống ở hai lưu vực sông chảy qua những vũng bồi màu mỡ. Chiếc cầu nối đôi bờ chia cách của con sông Kôn. (Khi làm bản đồ, nghe dân địa phương gọi sông con để phân biệt với sông cái, người Pháp bèn ghi thành sông Kôn, chứ không phải sông Côn, sông Con như nhiều người lầm tưởng).

Sau năm 1954, người ta qua lại con sông chỗ cầu bắc qua ngày nay bằng đò, đò bà Lại (còn gọi theo tên con là Hường). Vẫn còn dấu năm bảy chiếc trụ cầu bằng gỗ lim. Như vậy, để đi xe cam nhông lên đồn Hiên (huyện Đông Giang cũ) lính Pháp phải có cầu để đến đó. Và cầu Hà Tân bằng gỗ được làm từ thời Pháp thuộc, thời gian phải là trước 1945. Lý do suy đoán, năm 1945, lính Nhật đi xe nhà binh chở quân qua cầu này để lên đồn Hiên giải giáp quân Pháp đóng tại đây.

Có thể là chiếc cầu tạm bằng gỗ nên cấu trúc không bền bỉ như cầu sắt hay cầu bê tông. Thời gian xuất hiện và hư hỏng của chiếc cầu không có dấu ấn gì đối với những cư dân sống hai bên bờ sông, có lẽ, cầu chỉ dùng cho mục đích quân sự mà không phải dân sự; và rất ít xe như thế trước 1954 ở khu vực hẻo lánh này nên chiếc cầu gỗ chỉ làm tạm bợ, theo suy đoán của tôi.

Năm 1957 quận Thường Đức được thành lập gồm ba xã Lộc Bình, Lộc Vĩnh, Lộc Ninh và một vùng rộng lớn thuộc huyện Hiên và Giằng (huyện Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang ngày nay). Hai huyện này thật ra bị “bỏ ngỏ” chẳng ai làm chủ. Thời Pháp có đồn Hiên, thời Mỹ có đồn An Điềm, hai căn cứ quân sự này phụ trách an ninh vùng rừng núi bạt ngàn, giáp giới với Lào.

Như vậy, với một đơn vị cấp quận thành lập thì việc xây cầu là cần thiết. Quốc lộ 14B thời Pháp do đó được củng cố. Lúc này xuất hiện cầu đúc Hà Tân và cầu sắt Lộc Ninh ( bắc qua sông Cái- sông Vu Gia chảy về Ái Nghĩa nhập với sông Thu Bồn, gọi là Giao Thủy, nay có cầu Giao Thủy). Thời điểm xây cầu Hà Tân chắc chắn là vào những năm trước 1958 vì năm 1959, tổng thống Ngô Đình Diệm đi kinh lý qua cầu này, từ Kon Tum, theo quốc lộ 14 B về Hội An (tỉnh lỵ Quảng Nam).

Người Việt chúng ta không có văn hóa bảo tồn. Chính vì vậy, lịch sử thường bị chắp vá theo ghi chép phi chính thống. Không có bộ phận lưu trữ quốc gia ngoại trừ của triều đình. Có quá nhiều thay đổi tầng lớp cai trị qua mỗi thời đại. Thời đại sau thường phá hủy những gì là “cơ  ngơi” của thời đại trước. Năm 1945, sự phá hủy “tàn tích phong kiến” như đình, chùa, miếu mạo, đền đài... là một ví dụ.

Quê tôi ở vùng heo hút sát với núi rừng không thoát khỏi thảm trạng chiến tranh. Chiến tranh tàn phá nhà cửa lẫn những kiến trúc tiền nhân, khi tổ tiên chúng tôi theo chúa Nguyễn vào Nam lập nghiệp. Lịch sử ngày nay nổi trội  là lịch sử chống Pháp, chống Mỹ tức lịch sử chiến tranh. Không có lịch sử xây dựng đất nước, quê hương, làng mạc. Những sắc phong của các vị vua triều Nguyễn lưu giữ ở những ngôi đình làng bị tiêu hủy trong thời gian “tiêu thổ kháng chiến”.  Lịch sử làng mạc do đó chỉ còn trong ký ức. Và ký ức sẽ đi theo những người chứng kiến lịch sử khi họ không còn sống.

Tôi chắc ít ai còn nhớ nhà thờ Trúc Hà (thật ra là Trước Hà) thuộc xã Thượng Đức (mới) xây dựng năm 1926, sau nhà thờ Ngọc Kinh (Lộc Vĩnh cũ) vài chục năm (bị đốt cháy bởi phong trào Cần Vương – bình Tây sát Tả). Chiếc cầu Trúc Hà xây cùng năm 1926 với một ngôi trường "sơ học" đầu tiên của vùng Lộc Thượng (có lẽ là thượng nguồn huyện Đại Lộc?). Sau đó, năm 1940, người Pháp lập trường Ecole de Đức Thượng một trường tiểu học đầu tiên vùng Thường Đức. Chiếc cầu Trúc Hà hiện vẫn còn nguyên cả dầm cầu đúc bị mìn giật sập trong chiến tranh. Chiếc cầu gãy nằm ẩn sâu dưới dòng khe cỏ cây bao phủ. Điều ngạc nhiên là không ai có thể đập nó ra để lấy sắt như những kiến trúc bê tông khác. Vì sắt Tây quá tốt?

Lịch sử chỉ còn trong ký ức và chỉ có trong ký ức. Đây là điều may mắn nhưng cũng là điều đáng buồn. Những người chứng kiến các sự kiện lịch sử của quê nhà tôi ngày một vắng bóng. Tôi ao ước chính quyền địa phương nên quan tâm về quá khứ của một vùng quê- Thượng Đức ngày nay- như đã quan tâm khôi phục chiếc cầu "quá khứ" vừa bị gãy.

CÂY CẢI TRẠNG QUỲNH

Cây cải của trạng Quỳnh.

Lúc còn nhỏ, nghe cha tôi kể những câu chuyện về Trạng Quỳnh, tôi ngất ngây tự hào, người Việt Nam mình sao quá khôn ngoan. Không những khôn ngoan mà còn thông thái nữa.

Vua (gì đó, tôi không nhớ) luôn bực dọc Trạng xỏ lá nhiều thứ, chẳng hạn câu chuyện sau. Trạng cho lính hầu ra chợ bảo những hàng thịt heo thái thịt nhỏ để Trạng ra mua. Nhưng chờ tới chiều, rồi tối, chẳng thấy ai tới. Hàng thịt bắt đầu chửi Trạng. Lính hầu về báo lại, Trạng ra lịnh chửi ai bảo thái (thịt, xắt thịt) chứ không được chửi Quỳnh. Thế là cả chợ chửi thằng nào bảo thái (thịt). Bảo Thái lại là niên hiệu của vua Lê (nào đó, tôi không nhớ rõ). Vua rất tức giận nhưng không thể bắt tội Trạng Quỳnh.

Nghĩ ra kế hay, Vua  bảo lính xuống nhà Trạng để…ỉa cho bõ tức. Lịnh Vua là tuyệt đối tuân hành. Lính tráng khi muốn ỵ đều kéo xuống vườn nhà Trạng. Quỳnh biết mình là kẻ bề tôi, đâu dám cấm tụi lính. Sự thông minh giúp Trạng đối phó tài tình: "Vua bảo các ngươi ỉa nhưng không nói đái. Bọn bay ỉa mà đái ta sẽ cho cắt hết". Cắt cái dẫn nước tiểu ấy mà. Không ai ỵ mà không đái. Tuân lệnh vua, mọi người lính đều phải làm.

Mấy tháng sau, Quỳnh cho lính mang lên vua những cây cải cao như  đòn gánh. Vua ngạc nhiên hỏi, cải gì mà lạ lùng quá vậy. Trạng đáp, cải thường thôi; nhưng nhờ phân của lính, nó mới cao lớn tốt tươi như thế. Cải này to nhờ tưới cứt lính, Trạng mang biếu bệ hạ vài cây ăn lấy lễ.

Vua giận tím mặt nhưng vẫn cười cười cám ơn. Ngài ngẫm nghĩ: Thằng Quỳnh này xỏ lá quá.

Thật ra không phải vậy. Trạng Quỳnh rất khoa học. Cải mà tưới phân người sẽ phát triển cực kỳ. Thầy của tôi, ông Trần Văn Thọ, làm trưởng ty học chánh tỉnh Quảng Nam, giám đốc sở giáo dục bây giờ, kể lại chuyện ông chuyên gánh cứt tù ra đồng tưới cải. Có bữa ngã té, cứt đổ đầy người ông. Ông không sợ hôi hám mà sợ bị phát hiện không “hoàn thành công tác”. Ông nhận xét, phân tươi của người rất phù hợp cho cây cải. Trạng Quỳnh đã đi hàng trăm năm trước cho cái nhận định này của thầy tôi (đang còn sống ở Mỹ).

Xem thấy đâu tỉnh nào ở ngoài BắBắc trồng cây cải lớn thần kỳ như ảnh, tôi suy nghĩ không biết cải này tốt vì giống hay vì phân tươi của người. Tâm tư quá.

SINH KÝ, TỬ QUY.

(Bài không dành cho người quen đọc ngắn).

Mấy hôm nay trên mạng lan tràn hình ảnh nơi chôn một vị chủ tịch nước ở quê nhà, kèm những lời chú thích hầu hết chẳng êm tai. Nhà chức trách, ở đây là tuyên giáo, cần minh định rõ nơi chôn cất vị chủ tịch, quy mô thế nào, để người dân không dựa vào những bức ảnh trôi nổi, không rõ nguồn, rồi bình nghị nhiều thứ gây ảnh hưởng không tốt trong dân chúng.

Nếu nơi chôn cất đúng như trong hình thì to lớn và hoành tráng quá so với những ngôi mộ của chức sắc ngang cấp trước đây.Nhân đây, xin nói về nghi thức tang lễ và việc an táng nói chung, không cứ chi lãnh đạo.

Hơn chục năm trở lại đây, đời sống dân chúng khá hơn trước, việc tổ chức tang lễ và chôn cất thân nhân của họ có chiều hướng “giàu có” hơn, không tránh có nơi trở nên rình rang hơn và tốn kém hơn.Xuất hiện những nghĩa trang mấy chục, thậm chí mấy trăm mẫu tây, xây dựng kỳ công và mênh mông, như những địa điểm du lịch, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân dành cho người thân đã ra đi.  Đây là nhu cầu chính đáng và có thật. Nghĩa tử là nghĩa tận, chúng ta luôn luôn nghĩ như vậy, nên tất cả mọi người đều cảm thông đối với những nghi thức liên quan đến người quá cố.

Người ta cũng không thắc mắc có những đám tang, xe hơi đưa tiễn  kéo dài cây số, vàng mã như đô la âm phủ thả ngợp trời; những buổi ca nhạc tưng bừng bên cạnh quan tài sáng chói đèn màu, mọi người vào ra ồn ả, ăn nhậu nói cười như trong một đám cưới, không phải đám ma.

Khi chôn cất xong, người ta xây cho người chết những ngôi mộ nguy nga như biệt thự, thậm chí có người chăm sóc coi ngó thường xuyên như một ngôi nhà. Có tiền mọi người có quyền giành cho mình những điều tốt nhất. Nhưng liệu những người còn sống có được lo liệu đầy đủ như người đã mất hay không?

Liệu mọi người có được diễm phúc khi quá cố như thế không? Hay có những người lặng lẽ mang thân nhân mình về quê xa lắc xa lơ, tìm một huyệt mộ rẻ tiền,  bỏ lại con cháu vì không đủ tiền được chôn ở những nghĩa trang toàn những ngôi mộ của những người giàu có?  Hay phải thiêu đi cho đỡ tốn kém, gởi đâu đó vào một ngôi chùa, có chỗ phải đóng phí hằng năm?

Câu  trả lời hẳn là mặc kệ? Mạnh ai nấy lo, đèn nhà ai nấy rạng.

Đến một lúc nào đó với sự bùng nổ dân số, người chết tăng lên, việc xây cất nhiều ngôi mộ chiếm nhiều đất sẽ làm cho đất nước đủ chỗ chôn người hay không? Trung Quốc thời Mao Trạch Đông từng phá những nghĩa trang rộng lớn cổ xưa lấy đất cho canh tác.

Chúng ta sẽ không sợ hết đất cho người quá cố, khi có người sở hữu hàng mấy mẫu tây dành cho chỉ một hay vài ngôi mộ?

Tai sao ta không thực hiện ngay từ bây giờ việc chôn cất, mỗi người một diện tích nhất định, không kể vua quan hay dân thường, kẻ nghèo hay người giàu. Hoặc hay hơn nữa: hỏa thiêu, vừa ít tốn kém, vệ sinh, vừa không mất thêm nhiều đất?

Tôi có cảm tưởng chúng ta là một dân tộc “trọng âm”, ít “trọng dương”. Trọng người chết hơn trọng người sống. Nói về chết chóc là điều…úy kỵ, ít tai dám bàn. Cúng kiến thiếu sót hay lễ “bạc” lo sợ bị “quở phạt”. “Chết là hết” không phải là quan niệm chính thống của  con người. (“Tử giả biệt luận", Khổng Tử)

Người chết, theo suy nghĩ thông thường, dường như ở một thế giới luôn gần gũi người sống. Mọi thăng trầm của  người sống dường như gắn chặt nhờ quan tâm của người chết. Ông bà sẽ quở phạt con cháu nếu không lo đàng hoàng cho họ khi chết, do đó lúc chết con người được đối xử như sống, có khi còn hơn khi sống. (“Sống chẳng cho ăn, chết làm văn tế ruồi”)

Nghèo thì mộ đất, xi măng, khá hơn thì mộ gạch men, khá hơn nữa thì mộ đá hoa cương, giàu có thì mộ hoành tráng, nguy nga. Cúng, ngoài hoa quả gà heo, còn có áo quần tiền bạc gọi là vàng mã. Có cả những chiếc xe hơi bằng giấy to gần như thật hay một căn nhà lầu tổ chảng đốt cho người chết, khói bụi mịt mờ.

Cúng càng to, xây mộ càng lớn,  người khuất càng phò hộ, chứ không phải cúng bái, xây mộ để thể hiện lòng cung kính người sống dành cho người đã khuất. Nếu “xử sự” không “đàng hoàng” với người chết, người sống sẽ bị…người chết “quở bắt” ư?

Ban đầu là hiếu nghĩa với người chết sau thành “mặc cả” với họ, càng “cao lễ càng dễ thưa”. Do vậy, việc hỏa thiêu ít được chấp nhận trừ những người thành tín bên Phật giáo, xem cuộc sống vô thường, hoặc những người am hiểu lẽ đời, sống ở thác về, về với cát bụi, về bên kia cõi vĩnh hằng…họ xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Và hỏa thiêu là lựa chọn không mong muốn của người…nghèo thành phố.

Tôi nghĩ người đã chết không bao giờ trách móc người còn sống. Họ sẽ yêu mến người sống hơn khi người sống tiết kiệm, dành tiền ma chay, chôn cất cho họ, làm những việc hữu ích cho gia đình, cho người nghèo khổ.

Người phương Tây ít coi trọng mồ mả, ít tổ chức chôn cất tốn kém, ông bà họ bắt họ nghèo khổ lam lũ mãi sao? Hay họ ngày càng giàu, càng sang hơn ta?

Người chết mà “giận” người sống, bắt họ gặp tai ương khi không lo liệu họ tươm tất khi qua đời, có lẽ người sống sẽ … “tiêu mạng” rất nhiều. Người chết không như người sống, thích… “trả đũa” đâu.

Nếu trả đũa được, hàng trăm ngàn người nằm dưới những ngôi mộ trong các nghĩa trang quân đội VNCH bị quy hoạch hay hàng trăm ngàn  liệt sĩ miền Bắc nằm trong núi rừng sẽ “bắt” người đã giết chết họ để trả đũa từ lâu. Người chết ở nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, Sài Gòn (cũ), nếu linh thiêng sẽ “vặn cổ” ông nào còn sống ra lệnh  đào mộ họ lên lấy đất cho dân sinh.

Hỏa thiêu sau chết nên là chọn lựa cần được xã hội nhìn nhận như là giải pháp tương lai trong việc giải quyết nạn thiếu đất, lại ít tốn kém , hợp vệ sinh…đồng thời giảm đi cảm giác bất công cho người sống: mồ mả ông bà mình sao không hoành tráng bằng mồ mả những người có thân nhân giàu có; mồ mả người dân không to lớn bằng mồ mả của cán bộ chức quyền. Sẽ giảm đi "thi đua" xây mộ, người chết sau to hơn người chết trước.

Để việc an táng người quá cố gọn nhẹ, tiết kiệm, vệ sinh, chính nhà chức trách, nói rõ ra, chính cán bộ phải là người đi đầu, làm gương.

“Cán bộ đi trước, làng nước theo sau”.(HCM). Tổ chức tang lễ nên nghiêm trang mà giản dị.  Chôn cất trọng thể mà tránh phô trương.

Người dân nhìn nhà nước thiện cảm hơn nếu họ thực hiện việc an táng người có địa vị cao trong xã hội một cách khiêm tốn, đơn giản cho mọi cấp trừ những trường hợp đặc biệt như đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa qua.

Đất nước không thể để quý vị đầu não quốc gia phải bận rộn và mất thì giờ quá nhiều cho  những cái chết của cán bộ cao cấp đương chức hay về hưu; họ rất là nhiều vì sống rất khỏe,  rất lâu.

Đất nước sẽ nhẹ nhàng hơn, ấm cúng thân tình hơn, cho những quốc tang, “tỉnh tang”, “huyện tang”, “xã tang”, “ấp tang”.

Cán bộ cấp dưới như ấp, xã, huyện, tỉnh…có quan chức mất đi đều được thông báo cho cán bộ đến thăm viếng, phúng điếu khắp địa bàn họ sống, tùy theo phẩm trật chức tước người chết và các cấp đó cũng có những ban tang lễ lập ra gồm nhiều quan chức còn sống. Chúng ta tính được có bao nhiêu tang lễ như thế ở khắp đất nước này và đã tiêu tốn bao nhiêu thì giờ, tiền bạc của  xã hội, nhất là của các cấp lãnh đạo địa phương ?

Chưa thực hiện được việc hỏa thiêu chủ tịch Hồ Chí Minh vì nhà chức trách muốn duy trì thi hài cụ cho hậu thế thăm viếng, nhằm thỏa lòng ao ước của người dân chưa hề thấy cụ, con cháu hay những truyền nhân ít ra nên học từ di chúc của cụ một tập quán hết sức văn minh là hỏa thiêu cho người chết.

Nếu hỏa thiêu không phải là xu thế tất yếu trong tương lai thì cũng nên quy định bằng pháp luật: Mọi người từ ngài chủ tịch nước đến dân thường phải như nhau trong việc cấp (miễn phí) đất để chôn khi qua đời. Sống không công bình được do hoàn cảnh thì chết đi cũng nên thể hiện công bình lần cuối:  2 mét đất như nhau, “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” mà.

Người xưa có câu:

"Vị qui tam xích thổ, nan bảo bách niên thân.

Ký qui tam xích thổ, nan bảo bách niên phần"

(Chưa về với ba thước đất cũng khó mà giữ được thân mình đến trăm tuổi. Đã về với ba thước đất cũng khó mà giữ được cái mả đến trăm năm) Bài đăng 7 năm trước.

Ảnh: Có tính cách minh họa; không chắc là nơi yên nghỉ của một chủ tịch nước quá cố.

TẠI BÀ ÂU CƠ VÀ ÔNG LẠC LONG QUÂN

Là người thích sử, đọc tới chuyện 50 con lên núi, 50 con xuống biển, con cháu Rồng Tiên, 60 năm sau, tôi thấy “hận” hai vị khai sinh ra nước Việt Nam ngày nay. Đẻ ra 100 trứng, còn hơn rắn, nhưng đây là rồng, thôi cũng là vinh hạnh. Ông, Bà không ở chung mà lại chia con- chỉ có ly dị mới chia con- mỗi người mỗi ngả: “Anh đi đường anh tôi đường tôi. Tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi”.

Dã sử hay chính sử cũng là sử. Nhưng sự hình thành dân tộc VN bằng sự chia cắt thì thật là đau đớn. Có thể là dã sử, có thể  là chính sử. Và cũng có thể là qua câu chuyện, tổ tiên  chúng ta muốn nhắc nhở con cháu luôn nhớ: CĂN TÍNH của người Việt là sự chia rẽ? Chia rẽ là điều có từ huyết thống? Hãy cẩn thận.

Khi xem (không phải đọc) status của ông Thái Bá Tân đăng ảnh một tờ lịch có ghi ngày 30 tháng 4. Tờ lịch bằng mực đen. Không có bài thơ (ông làm thơ ngụ ngôn 5 chữ rất đặc sắc) hay chú thích nào cả. Nhưng phản hồi, đến lúc tôi viết bài này (là 7.30 tối), có 244 còm và 14 chia sẻ. Ông không có một chữ nào cho bức ảnh, nhưng có hàng trăm lời nhận xét, phản bác có, đồng ý có, nhưng lên án thì nhiều hơn. Tôi trích một vài comments (không sửa):

_ Nguyễn Trung Kiên: Đăng hình này mà đang được ngồi ở đất nước Việt Nam là ông vẫn còn được ưu ái và may mắn đấy! Đất nước này đã nuôi dưỡng ông đến tuổi này rồi mà giờ đây không biết ơn, tự hào..! Cạn lời với ông quá !

- Vũ Thị Minh Hòa: Đăng hình này tôi ghê tởm con ng ông...khg khác gì bọn phản động.

- Tuan Do: Một thằng không phải đi bộ đội ngày nào giờ c.ắn cà.n.

- Ha Nguyen: Ông giỏi sao ông không sang Mỹ, sang anh ,sang Pháp mà sống đi ,còn ngồi đó mà than cái nỗi gì. Giá đình ông đang được sống trong một đất nước bình Yên tốt đẹp, thế mà ông còn chống phá với những tư tưởng tiêu cục ,ông có biết cả hàng triệu còn em Việt nam đã đỗ máu vì mảnh đất này không ,thôi già rồi thì mình cứ an phận cứ để cho còn cháu lo ông ạ ,trước tôi rất nể phục ông vì ông là một con người trí thức ,nhưng giờ thì tôi phải nói thật mong ông thông cảm.

- Cường Phạm: Bao nhiêu người đã ngã xuống để có ngày 30/4/1975. Người VN ai cũng tự hào mà sao lại đưa hình ảnh này. Hết thuốc chữa

Hàng trăm chứ không phải hàng chục nhận xét khác còn cay nghiệt hơn ngoài những nhận xét trung dung hoặc “cảm thông” tôi không chép ra đây.

Tôi hết sưc  ngạc nhiên, tại sao người ta chỉ căn cứ vào một con số trên tờ lịch để đả phá người đăng nó dù bên bức ảnh không có một nhận xét cá nhân nào?

30 tháng 4 không phải là ngày trọng đại? Trọng đại hơn khi đó là kỷ niệm 50 năm, nửa thế kỷ, một dấu mốc vô cùng quan trọng. Những ai 30 tuổi nhìn thấy kỷ niệm 2025 sẽ khó mà còn sống để xem kỷ niệm ngày chiến thắng 50 năm nữa. Ngày 30 tháng 4 đánh dấu một trang sử oai hùng: Mỹ là nước không thua ai trong mọi trận chiến. Họ chỉ thua ở chiến tranh Việt Nam.

Thái Bá Tân đăng một tờ lịch ghi nhớ ngày 30 tháng 4 mà hàng trăm người nhảy vô chửi bới ông. Tại sao?

Tại ông Lạc Long Quân và bà Âu Cơ chia rẽ nhau quá sớm. Hai ngài có con cháu mãi noi gương?

2 THÁNG 9

nghĩ về “tầm nhìn”.

Không đồng ý với lựa chọn chủ nghĩa cộng sản cho đất nước của chủ tịch Hồ Chí Minh nhưng tôi hết lòng kính trọng ông qua 2 bản TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP và  DI CHÚC.

Khi trích dẫn  hiến pháp Mỹ và tuyên ngôn cách mạng Pháp trong tuyên bố độc lập năm 1945, cụ đã mong muốn nền cộng hòa non trẻ VN đi theo nền cộng hòa và dân chủ tiến bộ phương Tây- một tầm nhìn 80 năm.

Một tầm nhìn thời đại nữa , hơn 60 năm trước, lại xuất hiện trong di chúc: hoả táng và trồng rừng.

“Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là “hoả táng”.  Một yêu cầu hiếm thấy của một lãnh tụ trong khi ở Liên Xô, Lê Nin được ướp xác. Và cũng là một yêu cầu hiếm thấy ở các lãnh tụ nổi tiếng khác trên thế giới, nếu không nói là rất hiếm hoặc không có. “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ tổ quốc” nhưng cụ yêu cầu: “ Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”.

Cụ còn khuyến khích việc hỏa táng: “Và như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng”.

Tầm nhìn. Một tầm nhìn xuyên thời đại. Không có nghiên cứu nào về sự tác hại của xác người chết sau khi chồn nhưng mọi người đều hiểu xác thối rữa rất nguy hiểm vì chứa nhiều vi trùng vi rút gây bệnh. “Đốt” là "vệ sinh" nhất. Thấy ra sức khỏe của người sống bị ảnh hưởng bởi chôn xác, ai như cụ không?

NGƯỜI VIỆT, GIỎI SAO NGHÈO?

Đề tài này “hùng vĩ”  quá. Nhưng không vì hùng vĩ mà không nói tới. Ông Tô Lâm có nói tới Sài Gòn. Mấy chục năm trước(1960) , người Singapore qua Chợ Rẫy chữa bịnh là không phải dễ. Nhưng nay, người Việt phải qua Sing để chữa những bịnh trầm trọng (Võ Văn Kiệt, Nguyễn Bá Thanh). Vì sao?

Tôi cũng chẳng biết vì sao. Nhìn hai hình bên dưới, chúng ta sẽ hiểu vì sao.

Một “thiết bị” giúp người dùng tận thu tất cả phần trong hộp kem đánh răng. Thật đơn giản. Phần lớn kem đánh răng có vỏ hộp bằng nhựa. Nhẹ, mềm, dễ nặn (kem). Không như thời xưa, vỏ hộp bằng nhôm mỏng, nặn tới đâu, kem ra tới đó. Hộp nhựa không như thế. Kem gần cạn, người dùng phải bóp từ đáy tới đầu kem mới ra trên bàn chải. Nay, khỏi phải cực nhọc như thế. Có dụng cụ ra đời, tôi tạm đặt, dụng cụ nặn kem(đánh răng). Phần nhựa hộp kem sẽ cuốn lại, phần kem bên trong sẽ ra khi vặn nút chỉnh màu xanh (xem hình).

Một dụng cụ chẳng lấy gì làm to tát. Nhưng nó cho tôi suy nghĩ, người chế ra nó- có lẽ là người Việt chúng ta- có sự nhạy bén trong tư duy. Mà người VN rất giỏi “xử lý tình huống”, hơn 2500 năm trước, ông Khổng Tử gọi là “kiến cơ nhi tác”.

Trong chiến tranh, tôi muốn kể chuyện Việt cộng . Kể chuyện Việt kiều…rối ren lắm. Nói nhiều về VNCH sẽ dễ bị quy vào tội…chống phá nhà nước. Việt cộng rất khôn ngoan.

Những vụ pháo kích vào các đồn lính hay khu chỉ huy quân sự bên VNCH của VC dễ bị “bắt bài”. Quân Mỹ trong chiến tranh VN có lẽ đã sử dụng GPS (hệ thống định vị toàn cầu). Họ phản pháo rất chính xác và cảnh báo cũng rất chính xác. Vợ tôi thực tập ở bịnh viện Nhi Đồng Hoà Khánh (Đà Nẵng), rất nhiều bác sĩ và y tá người Mỹ. Khi nghe còi báo động, tất cả nhân viên y tế và bịnh nhân đều đã an vị dưới hầm bao cát chống pháo kích. 5, 10 giây  sau, đạn pháo nổ thật. Bịnh viện này nằm gần căn cứ Harking của  quân đội Hoa Kỳ.

Phản pháo thì ở nơi bắn pháo, quân Cách Mạng sẽ chẳng toàn thây vì “pháo bầy “ (rất nhiều khẩu bắn) của địch. Thế là, sáng tạo của VC để tránh thương vong rất thành công.

Sau khi chỉnh tọa độ pháo, quân CM không phải trực tiếp kéo cò súng. Họ dùng thiết bị kéo cò. Đó là thùng nước đục thủng lỗ. Khi nước đầy, cò súng vẫn giữ. Khi nước cạn, trọng lượng nước không đủ để “giữ” cò súng. Cơ bẩm kích hoạt. Pháo (có khi là hoả tiễn) phát nổ. Ông nội người Mỹ có phản pháo thì chẳng rụng cọng lông của VC. Họ rời nơi đạn pháo đời tám hoánh. Nghe kể lại như thế chứ tôi có theo VC đâu mà biết.

Như vậy, người Việt rất khôn ngoan và rất giỏi. Khôn và giỏi sao lại “lẹt đẹt” đi sau một số nước Đông Nam Á mấy chục năm nay ? Bây giờ, tôi có thể nói hùa theo người khác mà không sợ bị ghép tội phản động. “ Điểm nghẽn của điểm nghẽn là thể chế”.  (Lời của ông  tổng bí thư Tô Lâm).

Thể chế nào mà cộng đồng người Việt đôi ba triệu người từng là thân phận thuyền nhân có 5 người là tướng lĩnh trong quân đội Hoa Kỳ? Thể chế nào mà một phụ nữ người Việt (bà Giao Phan) chỉ huy việc chế tạo hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ? Thể chế nào mà bà Dương Nguyệt Anh chỉ huy chế tạo hàng chục loại vũ khí tối tân cho Hải quân Mỹ? Thể chế nào mà một nhà toán học (có giải thưởng Fields- như Nobel thế giới) Ngô Bảo Châu được trọng dụng?

Nhìn dụng cụ nặn kem; nghe kể lại sự sáng tạo của mấy anh du kích trong chiến tranh đối phó với người Mỹ; nhìn những thành tựu của người Việt di tản ra nước ngoài- nhất là ở Mỹ, tôi suy nghĩ, vì đâu mà người Việt “nên nỗi” ngay trên quê hương mình ? Kêu gọi bước đầu 100 trí thức Việt kiều về nước, dù sẽ và rất khó khăn- đòi hỏi sự hoà hợp và tương kính- là khởi đầu cho một giai đoạn, mà giỏi không thể nghèo.

Không thiếu nhân tài đất Việt. Chỉ thiếu thể chế cho nhân tài phát triển. Chuyện đơn giản, ai ai cũng thấy, nhưng hiếm ai tự vấn, tại sao “giỏi lại nghèo”.