Tôi thường nghe dinh Bà chứ ít nghe miếu Bà. Và miếu Ông mà không phải miếu Bà. Có thể nhiều lý giải về cách gọi này nhưng đó không phải là chủ đích bài viết này.
Những ai sinh ra ở thành phố, từ trước đến nay, miếu Ông, miếu Bà, dinh Ông, dinh Bà là khái niệm xa lạ nếu không nói là chẳng có khái niệm gì. Là người sinh ra ở nông thôn nhưng hơn nửa cuộc đời sống ở thành phố, tôi thấy sự quan trọng của tín ngưỡng, ở đây là thờ Ông, thờ Bà. Con sông, bến nước, cây đa, cây gạo...đều là hình ảnh gợi lên trong tâm trí của người dân sinh sống ở đây một khung cảnh mơ hồ và huyền bí; nhất là những người có tuổi thơ gắn chốn này.
Tôi là một trong những người ấy. Một thời gian dài, người Việt Nam chúng ta bị cuốn hút vào những sự biến lớn lao của đất nước: chiến tranh. Sự sống, cái chết, tàn phá, hủy hoại, bất định cuộc sống ám ảnh tâm hồn mọi người. Hình ảnh nên thơ và huyền bí làng quê trong đó có mái đình, mái chùa, cây đa, cây gạo, và miếu Ông, dinh Bà, nhà thờ tộc, đình trung chẳng là mối quan tâm đối với mọi người. Sống là trên hết chứ không phải hồn quê- gồm những cái tôi nêu- là trên hết.
Khi chiến tranh chấm dứt, người người trở về quê hương tìm lại nơi chôn nhau cắt rốn, chốn thanh bình, yên tĩnh ngày xưa.
Ban đầu, cái ăn- tức là lẽ sống- ám ảnh mọi người vừa từ các nơi đổ về quê cha đất tổ. Cây đa,cây gạo, mái đình, mái chùa, con sông, bến nước...chẳng có hình bóng gì trong tâm tưởng. Khoai, sắn, bắp, gạo có lúc bo bo... là hình ảnh sáng chói- bởi chúng là lẽ sống.
Chừng hơn vài chục năm sau, những cái ám ảnh người ta không còn ám ảnh nữa. Hình ảnh tâm linh ngày xưa trở về trong tâm trí mọi người nơi làng quê yên ả. Miếu Ông, miếu Bà, dinh Ông, dinh Bà trở thành một phần cao vời trong cuộc sống người dân thôn quê. Qua biến đổi cuộc đời, người ta trở về nơi họ sinh ra. Ông, Bà trở lại hình ảnh ngày xưa: Ban cho họ sự yên bình.
Bên đạo Ki tô, bình an, theo tôi, có lẽ là cốt lõi của tôn giáo này. Vị chăn chiên trước khi chết vì bị hành hình, đã nói “Ta để lại bình an cho các ngươi”. Những người theo đạo này có câu kinh cùng ý “Vinh danh thiên Chúa trên các tầng trời và bình an dưới thế cho người thiện tâm”.
Mấy thế kỷ trước, người Việt Nam không biết đạo Ki tô dù một bộ phận có theo Phật giáo hay Đạo giáo.
Vậy, về tinh thần, người ta dựa vào ai? Chắc chắn là vào ông bà, ở đây có thể viết hoa Ông, Bà, rất trang trọng.
Khi ghé một ngôi làng ở vùng quê gần nơi tôi sinh ra, biết có hai cái miếu, có người gọi là dinh Ông, Bà, tôi và vài người bạn nảy ý tò mò muốn viếng.
Cả hai ngôi miếu đều đổ nát. Còn lại chỉ là một hay hai trụ miếu và một vài mét bức tường. Kỹ thuật xây dựng thô sơ, nhìn sự loang lổ của bức tường, tôi thấy đá cuội, đá cục, vôi, và nghe đâu, nhớt cây bời lời trên núi là kết cấu xây dựng. Bề dày của bức tường là một thước mộc, tức từ cùi chõ đến đầu ngón tay giữa độ 43 cm. Vì sao tường dày như thế? Có lẽ “càng to càng chắc”? Chính kết cấu thô thiển ấy làm cho công trình không bền vững với thời gian?
Miếu Bà hay dinh Bà tọa lạc gần bờ sông, có vòng xoáy của dòng sông, rất dữ dội, dân ở đây gọi là bùng Ba Mạng. Bùng như bùng binh, nơi dòng sông có nước xoáy rất hung hãn, có nhiều người đi ghe qua đây bị gặp nạn, lật thuyền, mất mạng. Bùng Ba Mạng có thể là vòng xoáy nước đã cướp ba mạng người.
Nhìn dòng sông gần miếu Bà, ngày nay không như xưa, tôi vẫn hình dung sự nguy hiểm của khúc sông có dinh (hay miếu) Bà tọa lạc (hình). Hỏi người địa phương, tôi được biết miếu (dinh) có tên Thủy Đức Thánh Phi (Hiểu nôm na: Bà độ trì nơi sông nước). Thì ra, đâu có phải miếu chỉ của vị này. Hàng chục miếu tương tự có thể hiện diện ở Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam. Đi biển, đi sông, đi thuyền trong những vùng sóng nước, sinh mạng con người dựa vào thiên nhiên sông nước. Lập một miếu thờ ở những nơi hiểm hóc như dòng sông xoáy để con người khi qua đó có cảm giác được chở che, ai mà không mong ước?
Khi hỏi người địa phương vì sao những ngôi miếu Ông, miếu Bà này chỉ còn lại một vài trụ cột gãy đứt hay một đoạn tường loang lổ, họ trả lời: bị đập phá. Tôi lúc nào cũng có định kiến về thời kháng chiến: Chống phong kiến và thực dân. Tiêu thổ kháng chiến là một trong sách lược để giành lấy độc lập. Miếu Ông, miếu Bà ở ngôi làng này có lẽ cùng chung số phận “tiêu thổ kháng chiến”.
Thật bất ngờ khi biết hai ngôi miếu cổ này bị phá hủy sau ngày thống nhất đất nước. Bài trừ mê tín dị đoan. Miếu Ông, miếu Bà là biểu hiện của mê tín dị đoan.
Người ta không hiểu, sự xuất hiện của các kiến trúc tâm linh đều thể hiện mục đích tâm linh. “Bình an dưới thế cho người thiện tâm” của Ki tô giáo không khác gì sự bảo bọc của người Mẹ cho con cái mình những khi hoạn nạn. Miếu Bà. Dinh Bà. Tại sao hình ảnh bảo bọc trong Phật giáo là Phật Quan Âm và trong Ki tô giáo là mẹ Maria? Mẹ luôn che chở cho con.
Nhưng tại sao nơi thờ Mẹ (miếu Bà) bị phá hủy? Niềm tin vào một chủ thuyết không phải là niềm tin dân tộc có từ mấy ngàn năm khiến người ta phải phá hủy những “tàn dư” phong kiến như đạp phá chùa chiền miếu mạo trước đây? Tôi không hiểu.
Nhưng cách thức phục hồi niềm tin vào giá trị văn hóa trước đây thể hiện bằng sự phục hồi những am thờ nho nhỏ như trên khuôn viên miếu thờ Ông, thờ Bà khiến tôi suy nghĩ, con cháu chúng ta ngày nay lập am, lập miếu để cầu cái gì đó có lợi cho mình, không phải là bình an như ông bà ta từng nghĩ khi xây dựng những miếu thờ ngày trước.
Phục hồi giá trị truyền thống hay phục hồi giá trị lợi cầu bản thân khi những miếu Ông, miếu Bà không còn là mong ước của tổ tiên. Bình An thay vì Lợi Lộc? Miếu không phục hồi, chỉ am là hiện diện. Mỗi am của mỗi người cầu phước, cầu lộc. Ai cũng mong Ông, Bà ở am mình. (rất nhiều, tôi không muốn ghi hình vào đây).




