Wednesday, February 18, 2026

ĐI CHÙA

Tôi là người công giáo. Mấy chục năm nay, chỗ tôi tới đầu tiên ngày mồng một Tết không phải là nhà thờ mà là nhà chùa dù đạo Thiên Chúa nhiều nơi làm lễ rất sớm ngày đầu năm âm lịch.

Vợ tôi là người “toàn tòng”, theo đạo từ đời ông nội. Tôi theo đạo không phải vì vợ. Nhưng nhà chùa đầu năm còn hấp dẫn tôi hơn cả người yêu (100 năm) là bà vợ.

Vì sao tôi yêu chùa. Câu trả lời khá dài dòng. Đó là bởi giáo dục. Nói cho to lớn nhưng giáo dục ở đây là các trích đoạn tác phẩm văn học, khi tôi bước vào đời, nghĩa là từ đệ thất, bây giờ là lớp 6. Khái Hưng với tác phẩm Hồn Bướm Mơ Tiên là nhà văn khiến tôi yêu chùa. Nếu có trong sách giáo khoa miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tôi chắc chắn học sinh ngoài ấy sẽ yêu ông hơn tác giả của Thép Đã Tôi Thế Đấy.

Ngôi chùa xảy ra một tình yêu sâu đậm mà kín đáo giữa một chàng sinh viên Hà Nội và chú tiểu giả trai tên Lan. Lan gợi nhớ câu chuyện Lan và Điệp trong các vở cải lương miền Nam. Nhưng "chú" Lan ở đây rất nữ tính. Dù là người tu hành giả trai , Lan không thể từ chối tấm lòng yêu thương say đắm của Ngọc.

Kết thúc truyện (Hồn Bướm Mơ Tiên) là những câu văn ngắn của Khái Hưng tả về cảnh lá rơi, lá rụng: chia tay hay chia ly giữa hai tâm hồn trong trắng. Tôi yêu chùa tứ đó. Khái Hưng, một học giả nữ người Nhật nghiên cứu về văn học VN, được đánh giá “tài hoa” hơn Nhất Linh thủ lĩnh của Tự Lực Văn Đoàn với tác phẩm “chính luận” Đoạn Tuyệt dù nó không hay bằng tác phẩm Đôi Bạn. (Tác phẩm hay nhất của ông phải là Bướm Trắng).

Tôi yêu chùa cùng vì Nguyễn Nhược Pháp. Ông có một bài thơ trác tuyệt. Mấy câu thôi, thi sĩ khiến người ta yêu mến nơi tĩnh lặng của một ngôi chùa mùa xuân:

“Hôm nay đi Chùa Hương,

Hoa cỏ mờ hơi sương.

Cùng thầy me em dậy,

Em vấn đầu soi gương.

Khăn nhỏ, đuôi gà cao,

Em đeo dải yếm đào;

Quần lĩnh, áo the mới,

Tay cầm nón quai thao”.

Một cô gái miền Bắc, có thể là cô gái Hà thành.  Chùa là nơi đến thiêng liêng. Vậy mà cô gái tóc đuôi gà (mới lớn) lại  yêu thương trần tục, thầm lặng,  chàng trai mới gặp, đến nỗi mất cả tự tin mình là giai nhân, ngày nào đó sẽ là vị hôn thê:

“Em trước chàng theo sau

Em không dám đi mau

Ngại chàng chê hấp tấp

Số gian nan không giàu

Nhưng  thơ trong sách giáo khoa thời tôi đi học lại khiến tôi yêu chùa khôn tả chỉ với 2 câu: “Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái. Thẫn thờ khe Yến cá nghe kinh” (Chu Mạnh Trinh). Trong rừng đầy mai, chim cúng trái cho cho chùa. Cá lững lờ nghe kinh Phật khi đang bơi lội.

Chắc chắn là ngôi chùa. Chùa Hương. Tôi ao ước mấy chục năm để đến đây. Không hẳn thiếu điều kiện nhưng tôi muốn dành cho mình hình ảnh về ngôi chùa không phai mờ trong sự tưởng tượng và ao ước bấy lâu.

Tôi thấy chỗ này, giáo dục (qua những bài học trong sách giáo khoa) hình thành cảm nhận văn học- nếu không nói là nhân cách- của mỗi con người.

Đó là nguyên do, là người tin Chúa từ tấm bé, tôi vẫn yêu chùa. Và ngày trang trọng nhất của một năm- Mồng Một Tết- tôi đều đi chùa để tận hưởng những gì tôi tìm ra nơi ấy.

Đến chùa vào ngày thiêng liêng và trọng đại nhất trong một năm, quý vị, và tôi thấy sẽ thấy những gì?

- Lòng tin, bên công giáo gọi là đức tin. Số người đến chùa so với số người đến nhà thờ trong những ngày tết, tôi thấy, rất đông, hơn hẳn những người theo đạo (Chúa). Có gì ở chùa thu hút số người nhiều như thế trong mấy ngày thiêng liêng? Không hỏi, nhưng nhìn các thiện nam tín nữ ăn mặc chỉnh tề, đẹp đẽ, gương mặt thành kính, tụ tập vào sân chùa, sảnh chùa, chánh điện, tôi chắc chắn họ đến chùa để tìm sự che chở bình an. Phật độ trì cho họ, cho những người chân thật.

- Tôi không rõ, có ai trong số người chen chúc nhau trong tiếng chuông chùa có nguyện cầu danh lợi giàu sang. Có lẽ không nhiều bằng số người cầu bình an trong năm mới. Bình an là mong ước to lớn của người theo kitô giáo. “Thầy để lại bình an, thầy ban bình an cho các con”. Trước khi chết, chúa Jesus đã nói như thế.

- Cầu vận may. Nhìn các thùng xăm hay các bài giải các quẻ xăm, các bàn có các vị sư giải quẻ, tôi nghĩ, một số người đến chùa để tìm xem trong năm vận hạn họ thế nào. Đây cũng là nguyện vọng đáng tôn trọng. Ai mà không coi trọng vận mệnh của mình trong một năm.

Bên trái  chùa là một  am thờ có người phát xăm gõ chuông khi tín hữu đảnh lễ..

- Ngoạn cảnh. Có lẽ tôi là một trong những người như thế. Vào khuôn viên chùa, quý vị sẽ thấy hoa và hoa. Trên thế gian có gì đẹp hơn hoa? Có thể lan, cúc, mai, ly, cẩm chướng...mỗi nhà mỗi có nhưng chắc chắn không nhiều như ở trong nhà chùa. Đẹp nhất là mai. Mai biểu tượng mùa xuân ở miền Nam. Chùa chưng rất nhiều mai. Hầu hết là do các tu sĩ trong chùa chăm sóc nên mai rất tự nhiên không bị gò bó hay uốn nắn (như bon sai) mất đi vẻ đẹp đất trời của cây mai. Có nhiều loại hoa nhà chùa trồng (chắc chắn chẳng phải mua hay được cúng dường) người thường như tôi chưa hề thấy.

-Check-in: Nơi chụp hình cho các chàng trai cô gái, các vị có gia đình, cả những vị sồn sồn, hay già khú như tôi. Rất ăn khách. Các chùa rất am hiểu xu thế thời đại. Ăn hình nhiều hơn ăn cơm.

- Nghe tiếng chuông chùa. Văn Cao tả chuông nhà thờ trong một bài hát nổi tiếng của ông. Nhưng tôi cho rằng tiếng chuông nhà thờ không sâu lắng bằng tiếng chuông chùa. Nghe đâu, chuông đúc có vàng bên trong tiếng ngân của chuông trầm lắng như đi vào hồn người nghe. Nó u ẩn trầm luân không vui tươi lảnh lót như tiếng chuông nhà thờ. Nhưng tiếng khánh mới là số một. Tôi không hiểu ai là người phát minh ra  khánh. Trong không khí yên bình đầu xuân, tiếng khánh như len trong gió, nghe như xa như gần, như có như không, như hiện ra  như khuất mất...huyền ảo tiếng tiếng ngân của khánh chứ không phải tiếng chuông chùa.

Góc chùa thanh tịnh.

- Vào chùa ngày xuân, có thể quý vị sẽ phân tâm khi suy nghĩ- như tôi. Chùa là nơi thanh tĩnh tâm hồn hay là chỗ ồn ào náo nhiệt bởi cúng dường? Hàng nghìn chậu hoa, hàng trăm chậu kiểng, hàng chục bàn cho khách thập phương dùng cơm  chay nếu không có cúng dường thì ai là người chu cấp đủ? Chắc chắn phải có cúng dường. Có nơi tôi thấy thùng đựng tiền ghi là Công Đức; có chỗ ghi Cúng Dường Tam Bảo; có nơi ghi Phước Sương. Tôi quan sát rất nhiều người cúng dường với những tờ tiền mệnh giá lớn. Không rõ mục đích người cúng dường nhưng rõ ràng nếu không có nguồn tài chánh này, chùa không chừng trở thành “chùa Bà Đanh”.

Ở gần chùa Vạn Đức (Thủ Đức) tôi có thấy một ngôi Tịnh Thất (ngôi chùa tương lai) vắng vẻ dù ở mặt tiền đường Tô Ngọc Vân (quốc lộ 13 từ Bình Dương cũ về Sài Gòn). Nếu am hiểu kinh tế thị trường, vị trụ trì của ngôi tịnh thất này có thể xây một ngôi chùa nguy nga vì mặt tiền giáp đường vài chục mét ngang. Nhìn hình, quý vị sẽ thấy tịnh thất này từ chối cúng dường trong khi hàng chục tịnh xá tương tự ăn nên làm ra, nghĩa là hết sức tráng lệ, người sáng lập ra, tôi thấy hình họ được thờ, có dáng ngồi như đức Thích Ca Mâu Ni.

Tịnh xá “nghèo” có mặt tiền đường Tô Ngọc Vân.

- Hầu hết ngôi chùa hay tịnh thất tôi đi qua không phải chỉ ở Thủ Đức đều có nơi tri ân những vị sư hay vị ni “khai sơn”. Khai sơn có nghĩa là lập ra chùa. Vạn Đức (Thủ Đức) là ngôi chùa có thờ vị khai sơn. Ông được phục dựng hình nộm như thật. Có hình hòa thượng ngồi thưởng trà bên cửa sổ. Tôi mới nhìn tưởng ngài là người thật. Nghệ nhân tạc tượng người y như thật. Nhìn bàn tay cầm gậy, bàn chân mang đôi dép nhựa đơn sơ, những đường gân tay, hình những móng chân, quý vị sẽ không bao giờ nghĩ đó là hình giả.

- Ngài khai sơn ra chùa Vạn Đức xứng đáng được truyền tụng. Vật dụng của ngài từ áo quần, dép nhựa, kiếng đeo mắt, các dụng cụ ăn uống hằng ngày...đều trưng bày nơi tủ kính trong veo trang trọng. Rất xứng đáng khi nhìn thấy ngài là vị tu sĩ uyên bác trong phái Tịnh Độ. Mấy chục cuốn sách ngài viết. Mấy chục cuốn sách ngài dịch gần trong 100 năm xứng đáng tôn vinh.

- Nhưng có vị khai sơn tôi thấy đúc tượng  như vàng thờ như Phật, chẳng có tác phẩm nào xiển dương phật Pháp. Hay có công trạng nào như vị khai sơn chùa Vạn Đức.  Nơi chôn xác họ trang trọng  trong chùa, hay tịnh xá, với tên gọi uy nghi Giác Linh (thân xác thiêng liêng) nhang khói đủ đầy.

- Tôi nghĩ, không rõ những chùa hay tịnh xá như thế, phật Thích Ca hay vị khai sơn ra chùa, tịnh xá  mới là  người đáng thờ cúng nhiều hơn?

Vị sáng lập ra tịnh xá có tượng thờ như tượng Phật.

- Có một điểm, tôi khá băn khoăn, khi nói ra đây. Đó là hình ảnh của những vị chức sắc chính quyền lại là những điểm nhấn cho sự rạng danh ngôi chùa. Tôi thấy vị trụ trì có tạc hình nộm như thật trong một ngôi chùa rất lớn ở Sài Gòn xuất hiện bên cạnh những vị chủ trì đất nước như ông Nguyễn Minh Triết, Đỗ Mười, Nông Đức Mạnh, Võ Văn Kiệt...

Có chùa còn in những bảng to ghi lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo, nhất là về Phật giáo. Không rõ những vị tu sĩ đáng kính viết sách, dịch sách, đóng góp rất nhiều cho giáo hội Phật giáo muốn hình ảnh các vị lãnh đạo đất nước ở bên họ hay những tu sĩ kế thừa muốn sử dụng hình ảnh đáng kính của vị khai sơn ấy để khẳng định chỗ đứng của chùa mình trong lòng đất nước “tốt đạo, đẹp đời”. Dù sao, sự quan tâm của chính quyền đối với tôn giáo là điều đáng quý. Chùa cũng như người không nên “thấy sang bắt quàng làm họ”.

- Nói tóm lại, chùa là nơi con người như tôi nên đến để tìm sự tĩnh lặng, bình an  trong những ngày thiêng liêng mở đầu một năm. Nghe tiếng kính coong của khánh, tiếng ngân nga của chuông; ngửi mùi hương của nhang khói; nhìn những hình ảnh tươi vui của hoa của cây của cảnh, thấy nét mặt tươi vui của những người đến chùa thiện nam tín nữ, những nụ cười hồn nhiên của trẻ thơ theo mẹ đến chùa...tôi thấy mình hạnh phúc.

Những suy nghĩ cỏn con, sai lệch, thành kiến, của tôi về một vài điểm của các ngôi chùa hay tịnh thất sẽ bay đi trong hơi gió đưa vào các mái chùa gần gũi yêu thương.

Tất cả như làn hương thoảng bay. Hương ngạt ngào, lãng đãng trong sân chùa của những ngày đầu năm Bính Ngọ.