Saturday, February 7, 2026

CÁNH CÒ

Thật sự con cò mới đúng tên. Nhưng khi bay, cò sải cánh, hình ảnh đẹp, không khác hải âu, nên người ta hay gọi cánh cò. Cánh cò gắn liền người nông dân. Ở thành phố hay đô thị nếu không có ruộng đồng bao quanh, chắc chắn chẳng ai thấy cánh cò.

Tôi may mắn đi một số nước tiên tiến châu Âu: Đức, Ý, Pháp, Thụy Điển, Phần Lan...Tuyệt nhiên, tôi không hề thấy cò chứ đừng nói cánh cò. Quạ châu Âu tôi có thấy. Nó có màu nâu và xám bạc không đen tuyền như quạ Việt Nam dù tiếng kêu rất giống nhau. Ở Bá Linh hay Rô Ma tôi không có dịp ra đồng quê nhưng ở Pa ri s tôi có dịp ra khỏi đô thành tráng lệ để chiêm ngắm những cánh đồng lúa  mì xanh ngút, bao la. Và điều kỳ lạ, ở nông thôn vùng họa sĩ Monet sinh sống, khung cảnh hữu tình, cây xanh bát ngát, tôi chẳng thấy lấy bóng dáng một cánh cò.

Hay cò gắn liền với sự cơ khổ, nghèo khó, cam go? Nên chúng không xuất hiện ở những nước giàu có? Ở Việt Nam, cò gắn liền với đời sống cam khổ của người nông dân. Thân phận cò đi vào ca dao hay ca dao ghi nhận thân phận cò? “Con cò lặn lội bờ sông, Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non” (Nguyễn Công Trứ). Ngay cả Tú Xương một người đàn ông ích kỷ ăn chơi vẫn cảm thương người vợ “ Quanh năm buôn bán ở mom sông. Nuôi đủ năm con với một chồng. Lặn lội thân cò khi quãng vắng. Eo sèo mặt nước buổi đò đông”.  Cò còn thua thiệt rất nhiều trong cuộc sống. “Con cò mà đi ăn đêm. Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao. Ông ơi ông vớt tôi nao. Tôi có lòng nào ông cứ xáo măng. Có xáo thì xáo nước trong. Đừng xáo nước đục đau lòng cò con” (Ca dao).

“Đậu phải cành mềm” nghe mà đau xót. Cành mềm là sự rủi ro trong cuộc sống. Cành nào mà cò có thể “lộn cổ”;  chỉ có cành mưu mô xảo quyệt, “lạt mềm buộc chặt”. Cò mới sụp mưu. Nhưng lời khẩn nài “Có xáo thì xáo nước trong. Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”  nghe sao mà thảm thiết. Cò đang bụng mang dạ chửa. Một bà mẹ sắp sinh mà “đậu phải cành mềm”. Xót xa. Quặn thắt..

Cò hay người? Cò mẹ hay người mẹ? Mẹ dù là cò hay người cũng là mẹ: Cưu mang mọi nỗi khổ trần gian.

Tôi chưa đi Trung Hoa- nước “đồng văn đồng chủng” - nhưng tôi chắc chắn cánh cò gắn bó với cuộc sống người Việt Nam chúng ta nhiều hơn gắn bó cuộc sống của người Trung Quốc.

Trong các bức họa cổ, tôi thấy các tác giả Trung Hoa vẽ các loại chim nhưng ít thấy cò, cánh cò. Ở Việt Nam cũng rất ít có tranh vẽ cò. Tôi không hiểu vì sao. Nếu có thì chỉ là những cánh cò xa vắng, nhỏ nhoi, lác đác,  điểm xuyết cho khung cảnh nên thơ khác. Tôi không thấy có bức tranh vẽ cò nào nhìn dáng vẻ là thấy gầy còm kham khổ hanh hao.

Họa sĩ chúng ta ít chú trọng cò từ cổ chí kim. Bởi cò gắn với người nông dân mà không cùng sống với người thành thị- họa sĩ đa phần xuất thân từ chốn phồn hoa.

Không vẽ được cái cơ khổ của thân cò nhưng người nông dân – cụ thể là người nông dân quê tôi (Thường Đức, phía cực Tây Quảng Nam) không bao giờ coi rẻ con cò- cánh cò. Từ thuở xa xưa khi cha tôi năm ba tuổi (nếu còn sống ông sẽ là trên 120 tuổi) không hề nhắc đến có ai ăn thịt cò. Thịt cò rất “khét” (rất khó ăn). Đó là nhận định của người thôn quê chúng tôi. Khi tôi còn nhỏ, thập niên 1950, cò sinh sống rất nhiều, có thể nói là đầy đồng. Chúng làm tổ ở những cánh đồng lác (một loại cây cỏ cao thân dùng làm cói đan giỏ, đệm nằm...). Trẻ con có thể bắt dồng dộc con, chim sẻ con, nhồng con, cưỡng con... để nuôi nhưng không hề bắt cò con về làm vật cảnh. Có lẽ cò có mỏ dài và nhọn, rất nguy hiểm khi mổ. Có người bắt cò lửa (màu vàng đỏ) về nuôi để chúng có thể bắt cá cho người. Và cũng có người bị chúng mổ vào mắt. Trở nên mù,  vì cò nhầm tưởng đó là cá.

Khi cò không phải là thức ăn- nói trắng ra mồi nhậu- thì dân số của chúng phát triển có thể nói là đầy ắp những cánh đồng.

Tôi có nghe nói nhiều nơi ở đâu đó, người ta làm bẫy bắt cò, bằng cách làm những con cò giả y như thật. Cò thấy bầy bèn đáp xuống thế là dính bẫy. Chắc chắn cò sẽ không được đem về nuôi. Chúng sẽ là mồi nhậu- món đặc sản.

Tôi chưa đi khắp thế giới nhưng những nước tôi có tới, chim – không kể chi cò- là phần cuộc sống của họ. Chim không hề là thức ăn, chưa nói là mồi nhậu. Thấy những con chim sẻ như chim sẻ Tàu vẽ trong tranh, rất đẹp, bay đến hiên nhà con gái tìm thức ăn, tôi bèn lấy một ít gạo rải trong các chậu trồng hoa chỉ trơ đất mùa đông. Chim tíu tít bay đến, ngày càng nhiều. Qua cửa kính, tôi thấy chúng rất dạn dĩ. Người có lẽ không là đe dọa cho chim? Chúng vẫn ăn khi tôi đẩy cửa rải thêm cho chúng một ít gạo.

Tôi kể chuyện cho chim ăn với cháu nội, học lớp 4, lòng hãnh diện là “ông” đã cho chim trời ăn. Cháu tôi tròn mắt nhìn “Ồ, ông nội không được cho chim ăn thức ăn không phải dành cho chim trời”. Vì sao? Tôi hỏi. Cháu rỗi rãi giải thích: Ở trường, cô giáo dặn dò chúng con không được cho chim trời ăn ngoài thức ăn bán trong siêu thị. Chim có thể tiêu chảy hoặc nhiễm bệnh nếu ăn phải những thức ăn thừa của người.

Tôi nghĩ mà thương cho những con chim xứ mình. Ngày xưa, có thể chim sẻ đến ăn trên những nong lúa phơi ngoài trời và người ta không buồn đuổi chúng vì lúa chúng ăn không đáng kể bằng số lúa người dân thu về. Cảnh chim sẻ ăn lúa chỉ có trong dĩ vãng lúc tôi còn năm sáu tuổi- hơn 60 năm trước.

Không nói ai cũng hiểu, sau chiến tranh hủy diệt bởi đạn bom của người Mỹ, người Tàu, người Nga, cuộc sống người dân trải qua những tháng ngày cơ khổ vì “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”, thân người còn rẻ rúng huống gì thân cò, phận cò, cánh cò vốn đã khổ trong ca dao trong cuộc sống người nông dân.

Khi chim- ở đây là cò- không còn là mồi nhậu, không còn là thức ăn vô ý thức của con người không ý thức thì cuộc sống con người trở nên ý nghĩa. Đó là khi về quê những tháng ngày này, quý vị nhìn thấy những đàn cò, không phải những con cò, bay lượn trên những cánh đồng xanh mướt. Gió thoảng đưa hơi lạnh mưa phùn cuối đông, những cánh đồng xanh rợn sóng lúa non, điểm những cánh cò trắng phau đem lại hình ảnh nên thơ mấy chục năm trước còn in đậm trong ký ức non trẻ cho đến ngày nay.

Cánh cò mang lại cái tươi tắn cho một vùng quê từng héo hắt bởi chiến tranh - Thường Đức quê tôi.

Cò và người nông dân.

THĂM ÔNG ALFRED NOBEL

Nói cho oai vậy thôi chứ ổng mất đời “tám hoánh” khi tôi chưa ra đời. Nhưng đến Thụy Điển mục đích để  viếng nhà tưởng niệm Nobel là chính- tôi cũng như mọi người trên thế giới. Các giải thưởng- trừ giải Nobel Hòa bình trao ở Na Uy- đều tổ chức ở Stockholm, thủ đô của nước nầy.

Phải nói người phương Tây rất giỏi làm du lịch, nghĩa là rất khôn khéo trong việc moi tiền du khách. Ghé thăm nhà họa sĩ Monet ở Pháp, tôi mới thấy, Việt Nam chúng ta quá “bèo nhèo” trong việc làm du lịch liên quan đến các nghệ nhân, nghệ sĩ, họa sĩ...Các danh họa Việt Nam đâu thua kém mông xừ Monet, kể sơ lược như Nguyễn Phan Chánh, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Lê Phổ, Nguyễn Tử Nghiêm, Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng...

Nhưng có một nhà lưu niệm nào về các vị này không ở Việt Nam như ông Monet ở Pháp?Chúng tôi phải kiếm chỗ đậu xe cả nửa tiếng đồng hồ để vào thăm nơi ông ta ở lúc sinh thời; nghĩa là hàng ngàn chứ không phải hàng trăm du khách, không chỉ ở nước Pháp, mà cả thế giới chen nhau vào xem ngôi vườn và ngôi nhà của ông. Và khi ra về, để làm kỷ niệm tôi mua một chiếc đĩa sứ có in một bức tranh của Monet kèm chữ ký in trên đĩa giá 7 euro (khoảng 210.000 đồng).

Khi vào nhà lưu niệm ông Alfred Nobel, ở Thụy Điển, rút kinh nghiệm “xương máu” ở Pháp, tôi chẳng mua vật kỷ niệm nào ở quầy lưu niệm.Có tiền, tôi sẽ mua quà lưu niệm ở Việt Nam nếu ông Lê Đức Thọ có một nhà lưu niệm nhắc đến  giải thưởng Nobel Hòa Bình 1973, nhận chung cùng ngoại trưởng Hoa Kỳ  Henry Kissinger về thành tích chấm dứt chiến tranh  Việt Nam, một cuộc chiến hơn 58.000  người Mỹ bỏ mạng và chừng 3.000.000 người Việt Nam hy sinh.

Rất ít nhà tưởng niệm hay bảo tàng về danh nhân văn hóa, người Việt Xã Hội Chủ Nghĩa chúng ta có ê hề những nhà tưởng niệm anh hùng liệt sĩ, bảo tàng chiến tranh. Và cũng rất ít cách làm du lịch moi tiền du khách nhờ bảo tàng văn hóa. Vào một nhà tưởng niệm chiến tích hay bảo tàng chiến tranh, nhìn đâu cũng thấy hận thù và chết chóc, ai mà bỏ tiền ra mua vé vào cửa kia chứ.

Chúng tôi bỏ ra mỗi người gần 20 euro (chừng 600 ngàn tiền VN) để mua vé vào thăm nhà lưu niệm Nobel với lòng mong ước, ở nơi đây, tại sao lại có những giải thưởng làm ngất ngây những ai được xét nhận giải thưởng. Có thể một ngày nào đó, tiền thưởng của Vin future cho những người xuất sắc về nhiều lãnh vực sẽ nhiều hơn tiền thưởng giải Nobel, nhưng mấy ai hãnh diện? Vì sao. Vì giải Nobel trao tặng căn cứ vào trí tuệ thật sự chứ không phải trí tuệ “ăn theo”.

Cách trưng bày trong nhà bảo tàng Nobel khá là đơn giản. Bên ngoài là tiệm cà phê kèm thức ăn; kế đó là cửa tiệm bán hàng lưu niệm; bên trong nơi chính diện là các gian phòng trưng bày những gì liên quan đến nhà tổ chức (Nobel) và những nhân vật được trao giải. Có những máy móc tạo thay đổi thế giới từ thuở ban đầu. Qua quan sát, tôi thấy có chiếc máy chụp X quang, một phát minh có lẽ mang lại cho người sáng chế giải Nobel hay chăng? Tôi còn thấy một chiếc máy phát ra tia lazer. Trông rất thô sơ , mới nhìn, tôi cứ nghĩ nó giống một mô tơ xay nước mía, tất nhiên nhiều bộ phận hơn.

“Thấy sang bắt quàng làm họ” không phải là tục ngữ thông thường của người  Việt chúng ta. Cái tẩu thuốc, chiếc gậy chống, chiếc kính lão...những vật dụng thông thường của người nhận giải Nobel được trưng bày ở đây, nơi trang trọng, cho thấy người phương Tây biết quý trọng quá khứ, biết trân trọng những cái tầm thường của những người nổi tiếng. Cái tôi vừa nhắc chính là vật thường dùng của ông tổng thư ký Liên Hiệp quốc Kofi Annan, người châu Phi da đen.

Tôi thích nhất là thấy cuốn sách của nhà văn Chekhov trưng bày ở đây. Tuy không yêu chủ nghĩa cộng sản, không thích  Liên Xô, tôi rất quý mến ông nhà văn người Nga này. Truyện ngắn của ông có thể nói là ngôi sao cho tất cả các truyện ngắn từ tước đến nay của nhân loại.

Alfred Nobel thức tỉnh. Sáng chế chất nổ, sau này giết người, là nỗi ân hận của ông. Giải thưởng lập ra theo di chúc của mình, là để chuộc lại lỗi lầm: Văn minh nhân loại không đồng nghĩa với tình thương con người.

Khi chuẩn bị ra về, tôi tình cờ nhìn một một ghi chú về một nhân vật nổi tiếng thế giới được  nhận giải Nobel người Việt Nam- ông Lê Đức Thọ.

Không thể có người Việt Nam nào từ chối giải Nobel danh giá. Chỉ có một. Ông Lê Đức Thọ.

Ngoại trưởng Mỹ và nhà thương thuyết VN được nhận chung giải Nobel Hòa Bình sau chấm dứt chiến tranh đầy máu đổ cả hai bên.

Kissinger gởi một bức thư cảm ơn ủy ban trao giải hòa bình cho ông và nhà thương thuyết Việt Nam. Ông Lê Đức Thọ đánh một bức điện cho ủy ban xét giải Nobel nói rằng, ông không nhận giải thưởng vì chiến tranh vẫn tiếp diễn bởi Hoa Kỳ, người Mỹ bất tín (!?).

Và chiến tranh chấm dứt năm 1975 khi không còn người Mỹ. Nhưng tại bảo tàng nổi tiếng này vẫn còn ghi nhớ một người Việt Nam không thèm nhận trong hàng trăm người  nhận giải Nobel danh giá nhất thế giới. Ai mới là người muốn duy trì chiến tranh?

MIẾU ÔNG, MIẾU BÀ HAY DINH ÔNG DINH BÀ?

Tôi thường nghe dinh Bà chứ ít nghe miếu Bà. Và miếu Ông mà không phải miếu Bà. Có thể nhiều lý giải về cách gọi này nhưng đó không phải là chủ đích bài viết này.

Những ai sinh ra ở thành phố, từ trước đến nay, miếu Ông, miếu Bà, dinh Ông, dinh Bà là khái niệm xa lạ nếu không nói là chẳng có khái niệm gì. Là người sinh ra ở nông thôn nhưng hơn nửa cuộc đời sống ở thành phố, tôi thấy sự quan trọng của tín ngưỡng, ở đây là thờ Ông, thờ Bà. Con sông, bến nước, cây đa, cây gạo...đều là hình ảnh gợi lên trong tâm trí của người dân sinh sống ở đây một khung cảnh mơ hồ và huyền bí; nhất là những người có tuổi thơ gắn chốn này.

Tôi là một trong những người ấy. Một thời gian dài, người Việt Nam chúng ta bị cuốn hút vào những sự biến lớn lao của đất nước: chiến tranh. Sự sống, cái chết, tàn phá, hủy hoại, bất định cuộc sống ám ảnh tâm hồn mọi người. Hình ảnh nên thơ và huyền bí làng quê trong đó có mái đình, mái chùa, cây đa, cây gạo, và miếu Ông, dinh Bà, nhà thờ tộc, đình trung chẳng là mối quan tâm đối với mọi người. Sống là trên hết chứ không phải hồn quê- gồm những cái tôi nêu-  là trên hết.

Khi chiến tranh chấm dứt, người người trở về quê hương tìm lại nơi chôn nhau cắt rốn, chốn thanh bình, yên tĩnh ngày xưa.

Ban đầu, cái ăn- tức là lẽ sống- ám ảnh mọi người vừa từ các nơi đổ về quê cha đất tổ. Cây đa,cây gạo, mái đình, mái chùa, con sông, bến nước...chẳng có hình bóng gì trong tâm tưởng. Khoai, sắn, bắp, gạo có lúc bo bo... là hình ảnh sáng chói- bởi chúng là lẽ sống.

Chừng hơn vài chục năm sau, những cái ám ảnh người ta không còn ám ảnh nữa. Hình ảnh tâm linh ngày xưa trở về trong tâm trí mọi người nơi làng quê yên ả. Miếu Ông, miếu Bà, dinh Ông, dinh Bà trở thành một phần cao vời trong cuộc sống người dân thôn quê. Qua biến đổi cuộc đời, người ta trở về nơi họ sinh ra. Ông, Bà trở lại hình ảnh ngày xưa: Ban cho họ sự yên bình.

Bên đạo Ki tô, bình an, theo tôi, có lẽ là cốt lõi của tôn giáo này. Vị chăn chiên trước khi chết vì bị hành hình, đã nói “Ta để lại bình an cho các ngươi”. Những người theo đạo này có câu kinh cùng ý “Vinh danh thiên Chúa trên các tầng trời và bình an dưới thế cho người thiện tâm”.

Mấy thế kỷ trước, người Việt Nam không biết đạo Ki tô dù một bộ phận có theo Phật giáo hay Đạo giáo.

Vậy, về tinh thần, người ta dựa vào ai? Chắc chắn là vào ông bà, ở đây có thể viết hoa Ông, Bà, rất trang trọng.

Khi ghé một ngôi làng ở vùng quê gần nơi tôi sinh ra, biết có hai cái miếu, có người gọi là dinh Ông, Bà, tôi và vài người bạn nảy ý tò mò muốn viếng.