Thursday, October 23, 2025

CÔ GIÁO CỦA TÔI

Thực cũng đại ngôn một chút. Tôi không phải là học trò duy nhất được cô yêu mến lúc còn đi học tiếng Anh thời trung học, Trần Quý Cáp Hội An từ năm 1969.
Tôi chỉ đáng là học trò của học trò cô. Sau này vào Sài Gòn cô giảng dạy tiếng Anh cho các vị sư bằng cấp đầy mình.

Cô viết sách tiếng Anh như cuốn Buddhism through English reading, Phật giáo qua bài đọc tiếng Anh, và dịch nhiều sách Phật từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Nhưng tôi vẫn coi là cô giáo của tôi vì tôi luôn kính trọng, yêu quý cô: cô đã cho tôi những bước chân vững chãi chuẩn bị vào đời.

 Hình ảnh của cô đối với học sinh chúng tôi đều ấn tượng như nhau. Cô xinh đẹp, cao ráo, quý phái, thông minh, đặc biệt là nghiêm nghị. Cô rất ít cười khi vào lớp nhưng khi cô cười chắc phải có cái gì đó vui lắm, cả lớp cũng phải cười. Nghiêm nghị nhưng không hề khắt khe. Chẳng bao giờ chúng tôi nghe cô to tiếng chứ đừng nói quát tháo học sinh dù không thiếu những thằng quậy phá. Giờ học của cô trôi qua rất nhanh, cô dạy rất hay. Mỗi tuần ba bận, chúng tôi luôn mong đến giờ dạy của cô.

Tại cô đẹp, quý phái nên bọn con trai vừa qua tuổi dậy thì luôn mong muốn được nhìn thấy một hình mẫu phụ nữ tuyệt vời như cô chúng tôi chăng? Suy nghĩ đường đột nhưng e có phần tha thứ được. Cạnh tôi có một bạn, tôi không tiện nêu tên, trên vở hắn toàn ghi tên Phương Lan, Phương Lan chi chít, đến nỗi tôi ái ngại nhắc nó chớ để cô thấy và đừng có nhìn cô chằm chặp như một kẻ si tình, cô biết thì chết. Mà nó chẳng chịu nghe. Trò yêu thầy, học sinh yêu cô giáo là có nhưng đối với đa phần chúng tôi, tình cảm " mông lung" đó chắc không có với cô, một con người cao quý chúng tôi luôn quý trọng.

 Chúng tôi yêu mến cô còn vì cô có hoàn cảnh mà lúc đó chúng tôi nghe phong thanh chứ không nghe đích thân cô kể. Cuộc sống tình cảm của cô chỉ còn dành cho mỗi cô con gái, nghe đâu cô ly thân, thỉnh thoảng cô dắt đến trường, tung tăng với bím tóc cài hoa vải đỏ, trong bộ đầm màu hồng nhạt, xinh xắn. Chồng cô là một bác sĩ giám đốc bệnh viện, tài năng bậc nhất về y tế lúc đó tại tỉnh Quảng Nam.

Nghĩ cô chúng tôi và vị bác sĩ đẹp trai, hào hoa kia sống ly thân, nên chúng tôi thấy...ghét ổng quá, "dám" làm cô chúng tôi đau khổ. Đến nỗi, mỗi lần có pháo kích ban đêm vào thành phố, người ta thấy ông bác sĩ " đáng ghét" kia lái xe jeep chạy khắp ngả đường chở người bị chết, bị thương về bệnh viện cấp cứu. Chúng tôi nghĩ: à, ông ta chắc theo...Việt cộng ( lúc đó chúng tôi rất sợ), chạy xe để chỉ điểm cho họ pháo kích đây. Yêu quý cô mà đâm ra ghét chồng cô, thiệt là suy nghĩ trẻ con. Ai mà đi dưới làn pháo đang nã bao giờ, chỉ vì lòng nhân đạo, muốn cứu người bị nạn kịp đến bệnh viện trong khi mọi cư dân thành phố đã yên vị dưới những bao cát chất thành hầm tránh đạn. Một hành động nghĩa hiệp hiếm có của một bác sĩ thời chiến tranh.

Lòng yêu mến cô càng sâu đậm khi sau này, chúng tôi biết thêm người con gái duy nhất của cô, đã về cùng cát bụi khi tuổi còn quá đỗi thanh xuân , nắm tro cốt gởi về một ngôi chùa xa xôi, vắng vẻ.

 Tôi áy náy đã nói đến đời tư của cô nhưng không thể không thương cảm khi nghĩ đến những nghịch cảnh cô phải trải qua.  Riêng tôi, tôi yêu mến cô còn một lẽ hoàn toàn cá nhân. Cô khuyên tôi trong 1 dịp, rất may được cô nói chuyện, vì cô hầu như không tiếp xúc với ai. Khi thấy tôi và một bạn học khá môn tiếng Anh, cô đã dặn tôi mấy điều, có lẽ cô nghĩ tôi và bạn ấy có thể theo nghiệp của cô sau này: sư phạm.  Và đúng là như vậy. Bạn tôi ra Huế còn tôi vào Sài Gòn, cả 2 đều đậu sư phạm " ngành huấn luyện giáo sư trung học đệ nhị cấp" (giáo viên cấp 3, dạy cấp nầy gọi là " giáo sư", lương tương đương phó quận trưởng thời đó).

Cô bảo tôi cố gắng tập nghe radio tiếng Anh( chương trình VOA Special English), và tập đọc sách tiếng Anh. Trời, tôi than thầm, mới lớp 10 mà nghe đài, đọc sách sao nổi. Radio thì có sẵn, (máy cassette rất hiếm, không dễ gì mua để luyện nghe) tôi lõm bõm tập nghe, rất mệt mỏi nhưng nghe cô khuyên cũng cố, dù tốc độ phát thanh chậm, và câu cú ngắn.

 Cô còn chỉ cho tôi cuốn The old man and the sea, (Ngư ông và biển cả) trong thư viện của trường. Tôi nghiền ngẫm cả tháng chưa xong, vì vừa đọc vừa đối chiếu bản dịch tiếng Việt chỗ nào không hiểu.

Mà thật, lúc vào đại học Sài Gòn, một học sinh tỉnh như tôi thi đậu vào cái lớp tiếng Anh duy nhất, non 40 người, toàn sinh viên ưu tú miền Nam thời đó, đa phần xuất thân từ trường Pháp, nói tiếng Anh cũng như gió như tiếng Pháp.

 Nhờ cô định hướng mà tôi có chút vốn vào lớp học, cả ngày không được nói tiếng Việt, học với các thầy tốt nghiệp tiến sĩ ở Mỹ, ở Anh, và ngay cả thầy người nước ngoài.  Các bạn tha thứ cho tôi hơi khoác lác chỗ này vì tôi muốn ghi nhớ một cô giáo mấy chục năm trước, đã dạy tôi một điều quý giá: tự học, làm một cái việc không hề dễ dàng cho 1 học sinh lớp 10" nghe đài, đọc sách" trong một thành phố " nhà quê" so với " đô thành Sài Gòn" dù bây giờ học sinh mẫu giáo cũng nghe và nói tiếng Anh trôi chảy, một việc rất hiếm thời đó, học sinh, thầy giáo chỉ "học chay", "dạy chay" vì chiến tranh.

Tôi không thành công như một số bạn, có đứa tiến sĩ, đứa hiệu phó đại học, đứa làm giám đốc sở, tỉnh ủy viên...Tôi thành công ở chỗ dù không phải "phó tiến sĩ" chỉ là "phó thường dân", luôn luôn tự học, suốt mấy chục năm rời trường, già vẫn học, đến con cháu cũng ngạc nhiên, cái môn mà cô giáo của tôi cô Trần Phương Lan đã động viên hơn nửa thế kỷ trước.

Đôi khi tôi tự hỏi: có phải vì yêu mến cô mà tôi yêu mến môn tiếng Anh hay không?  Chắc là cả hai.

LẠI PHẬN ĐÀN BÀ

("Đau đớn thay phận đàn bà", Nguyễn Du)

“Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”.



Cụ Tú Xương thương cảm nói về nỗi cơ cực của vợ mình nhưng cũng là nói về nỗi cơ cực của người phụ nữ Việt Nam.

Sinh ra một bé gái có khi không phải niềm vui mà là nỗi thất vọng của những gia đình đang muốn có một đứa trai để nối dõi tông đường.

Phụ nữ đã gắn vào mình số phận bất bình đẳng khi cất tiếng khóc chào đời. Phong kiến ngàn năm đã hằn sâu trong đầu óc con người Á đông, phụ nữ chỉ là cái máy đẻ, một ô shin cần mẫn không tốn tiền thuê.

“Lại con gái, lại một vịt giời, ”. Chắc có người buồn bã pha bực tức thở ra khi đón một sinh linh nữ không mong muốn sắp bước vào đời.

Khổng Tử học vấn uyên bác nhưng thật bất công, ông ta nhận xét: “phụ nhân nan hóa” (đàn bà khó giáo dục lắm). Ngài cũng bị cho là tác giả mấy câu phân biệt giới tính: "Bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại" (trong ba tội bất hiếu, không người nối dõi là lớn nhất). Hay “nhất nam viết hữu thập nữ viết vô” ( một trai kể là có mười gái kể như không. Câu này chắc mấy đồ nho bịa ra chưa hẳn của Khổng Tử).

Truyền thống thì như thế nhưng ngôn ngữ, một bộ phận văn hóa, đâu thua, trong vấn đề trọng nam khinh nữ. Chê ai hẹp hòi ích kỷ thì gọi “tính như…đàn bà”. Đi làm việc gì mà gặp thất bại thì la lối “sáng ra đã gặp đàn bà, xui quá”. "Phụ nữ đái không qua ngọn cỏ". Phụ nữ đến kỳ kinh nguyệt các cụ không cho lên nhà trên, nhất là cấm bước qua bàn thờ.

Đừng nói ở Á đông ảnh hưởng Nho giáo nghe. Hồi Giáo có biết Nho giáo là chi. Phụ nữ vừa rồi ở Ả rập Saudi mừng tí tửng, như thắng cá độ đá banh, khi được cho phép…lái xe hơi, sau mười năm tranh đấu với chính phủ trong khi thế giới có ai cấm phụ nữ lái xe đâu. Đó là chuyện nhỏ.

 Chuyện lớn hơn. Có nước còn cấm trẻ em gái đến trường. Ra đường phải che mặt, có giám hộ là đàn ông đi kèm. Không được mở tài khoản ngân hàng. Không được ra nước ngoài khi người giám hộ (cha, chồng) không cho phép. Ngoại tình (như không chồng, quan nghệ người có vợ) có nơi còn bị ném đá đến chết, trong khi đàn ông, luật pháp cho phép cưới tới ba bà vợ. Có chỗ (rất ít) khi đến tuổi nào đó, trẻ em nữ bị đè ra cắt tiểu âm thần (chỗ nhạy cảm nhất ở bộ phận sinh dục), có trường hợp tử vong do ra máu quá nhiều, được thực hiện bởi người thân không am hiểu y tế.

Thôi, đó là chuyện do con người chứ chuyện ông trời mới đáng nói. Trong Sáng thế ký (sách cựu ước) Kitô giáo, Chúa Trời nặn đất rồi hà hơi tạo một người Nam. Sống trong vườn địa đàng vẫn cảm thấy buồn bã. Ngài chợt nhớ ra “a, chàng Nam này cần phụ nữ rồi”. Ngài bèn rút một cái xương sườn của người đàn ông và làm nên người nữ. Một lần dạo chơi thấy cây táo sum suê những quả đỏ mọng (đã được dặn cấm hái) người Nữ nghe lời sa tăng xúi dục “ăn trái nầy sẽ thông thái như Chúa” bèn hái xuống mời người Nam. Lúc bị quở phạt, chàng Nam kia chỉ người nữ và nói “tại cổ xúi tôi”.

Đó, mới xuống thế đã “ép” người (nữ) quá đáng. Thuở hồng hoang đã bất công rồi, huống hồ chi đến nay. Nhưng có phải chỉ mỗi ăn táo đâu, người nữ còn một nhiệm vụ nặng nề, đó là sinh đẻ. “Mang nặng đẻ đau” chín tháng mười ngày chứ phải đâu vài hôm thì chẳng nói làm chi. Đàn ông phải chi được tạo hóa cho thêm chức năng mang bầu để họ cảm thông nỗi đau của người phụ nữ.

Ngay cả chuyện nhà, những việc đàn ông ai làm không được, phụ nữ cũng “giành” làm hết. Không thiếu cảnh ăn xong, bận dọn dẹp thì ông chồng đã tót lên sô pha, xỉa răng, phì phèo điếu thuốc, có ông không quên bảo vợ rót ly nước trà, vô tư reo hò “cùng World cup”.

Một điều xót xa khi một số phụ nữ nghĩ họ sinh ra là để đẻ, để nuôi con, để làm việc nhà, để phụng dưỡng chồng con. Tôi thỉnh thoảng tham gia rửa chén. Gặp chị bạn đến chơi. Chị bảo “chớ bà xã đâu mà anh phải rửa chén”.

“Phụ thuộc” dường như là “căn tính” của phụ nữ sao? Có người bảo phụ nữa bây giờ không như tôi nói như vậy đâu. Họ có nhiều tự do lắm. Tự do lắm là tự do thế nào? Các cô có dám ngồi nguyên một ngày để uống bia, hút thuốc tán gẫu không? Các cô có dám đến những nơi nhạy cảm để "ăn phở", vì đã ngán "cơm" quá không? Các cô có dám ban đêm đi sớm, về trễ như các ông bù khú bên ngoài, hay là phải thức đến khuya, thấp thỏm chờ cửa đợi chồng về, còn không dám gọi điện hỏi chừng xem ổng đã về hay ngã xe đâu đó, còn e sợ làm thế “sẽ mất mặt chồng”?

Có những chị can đảm, nhưng tôi cam đoan rất ít. Nghĩ đến con, đến gia đình, họ cam chịu tất cả.

Những ngày kỷ niệm tôi thấy chỉ dành cho phụ nữ chứ không dành cho nam giới. Tuyên dương bà mẹ Việt Nam anh hùng, không có ông cha anh hùng. Như thế là vinh danh phụ nữ ư? Đúng nhưng trong 365 ngày, các đấng mày râu tặng hoa cho các chị phụ nữ được mấy lần? Ngày phụ nữ rửa chén cho họ tôi thấy ý nghĩa hơn tặng hoa. Tôi không phủ nhận sự vinh danh phụ nữ nhưng muốn nói nói rằng vinh danh như vậy chưa đủ, chưa đáng sự hy sinh của họ cho gia đình, cho xã hội.

Ngay cả những chuyện tế nhị, người phụ nữ cũng thiệt thòi. Xưa, đàn ông thì “năm thê bảy thiếp” (ác nỗi, “gái chính chuyên chỉ có một chồng”) nhưng, nay, có còn vậy không? Tôi cho là có nhưng dưới hình thái tinh vi hơn. Không kể một số quan chức biến thái nhờ tham nhũng, có những cô bồ đẹp hơn hoa hậu, thậm chí còn cất nhắc lên chức, làm những chức vụ béo bở. Phần đông đàn ông “đàng hoàng” còn lại có dám chắc mình trọn đời… “chung thủy” hay không? Nam giới có bồ nhí vỡ lỡ ra, xã hội còn châm chước (thậm chí được khen đào hoa) chứ nữ giới ngoại tình bị bắt được, xã hội lên án còn hơn lên án bọn khủng bố IS.

Tôi không cổ xúy ngoại tình. Tôi chỉ nhấn mạnh khía cạnh phán xét xã hội về một người nữ và một người nam trong tình cảnh đó. Có công bằng không?
Có rất nhiều trại giáo dưỡng nhốt những cô gái hành hề bán dâm.Tai sao cả nước tôi không thấy nơi nào nhốt mấy người mua dâm? Xã hội đã đối xử hết sức là phân biệt giới tính.

Chuyện bên ngoài là thế, chuyện thầm kín (như là phần thưởng của tạo hóa ban cho con người, tình yêu xác thịt) cũng không khá hơn. Liệu chúng ta có bình đẳng giới tính ngay trong chuyện thầm kín đó không? Tôi e là không vì không phải tất cả đàn ông đều biết điều đó. Có biết bao phụ nữ đã gọi đến radio trả lời chuyện thầm kín than vãn họ không được thỏa mãn chuyện chăn gối vì chồng chỉ lo cho xong phần mình còn phần kia, thây kệ . Tôi nghĩ không ít phụ nữ như vậy nhưng họ không dám nói ra vì nghĩ" chuyện đó" mà đòi hỏi là “tội lỗi". Nhảy lên giường ngủ như hổ đói, cắn xé con mồi, cho thỏa lòng ham hố, khát khao nhục dục, nhưng nếu hành động đó khởi đầu từ người vợ, chắc chắn trong đầu ông chồng xuất hiện câu “bà này điên rồi”.

Tôi muốn trao đổi với các bạn về vấn đề bình đẳng giới tính rốt ráo như thế để mong những đấng mày râu, ngoài những hoài bão vĩ đại như ngày nào đó sẽ sống trên một đất nước như Singapore, có những việc làm chỉ mong là nhỏ thôi, để thu hẹp khoảng cách bất bình đẳng nam nữ, giúp chúng ta cư xử yêu thương chân thật hơn với “phân nửa” cuộc đời mình.

Chừng nào khi sinh ra, trẻ con lấy họ mẹ, hoặc họ cha, tùy vợ chồng quyết định, nhà nước phải chấp nhận. Chừng nào đàn ông có thể sinh đẻ như đàn bà, cũng hành kinh mấy ngày một tháng. Chừng nào phụ nữ được đứng giữa đình mà làm chủ tế như bà Võ Tắc Thiên khi xưa bên Trung Hoa. Chừng nào biết rõ có bà Trời chứ không phải mỗi ông Trời. Chừng nào bà vợ đi xa, ông chồng ở nhà trông mong như trông mẹ đi chợ. Chừng nào người vợ đá được ông chồng té ngửa vì đã ôm sổ đỏ, xe hơi đi cá độ đá banh chứ không phải ngược lại. Chừng đó sẽ có chuyện bình đẳng nam nữ. Còn muôn đời thì không.

Nhưng nếu muốn giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng giới tính, phụ nữ nên không cưới chồng, không “dây” cái của nợ kia làm chi. Còn đã lỡ yêu thì nên xét kỹ mới lấy, không vớ phải một ông “gia trưởng bẩm sinh” sẽ “héo cả đời hoa”. Trong từ điển tiếng Việt sẽ có thêm từ “phận đàn ông” chớ không phải “phận đàn bà” như đầu bài viết, lúc đó phụ nữ sẽ hoàn toàn được giải phóng.

TỰ DO NGÔN LUẬN

Nhà thơ Nguyễn Công Trứ:
"Thoạt sinh ra thời đà khóc chóe
Trần có vui sao chẳng cười khì"

Cụ nói về thế thái nhân tình, không nói về tự do ngôn luận. Mượn thơ cụ để diễn dịch thêm. Mở mắt chào đời là muốn ..."phát biểu", dù chỉ là oe oe mấy tiếng. Con người sinh ra đã có quyền "ngôn luận".

Thời đại internet tràn ngập, nói một tiếng, dù nói thầm, nói một mình, bên tây hay bên tàu, mấy giây là cả thế giới đều biết. Nó ảnh hưởng rất lớn, rất "khủng khiếp".
Nhiều người sợ hãi là đúng. Nhưng tôi thấy chẳng có chi phải sợ. Mà có lợi là khác nếu tiếng "thì thầm" kia là đúng, là chân lý.

Quốc gia, tôi nghĩ nôm na kiểu nhà quê, cũng như một gia đình. Tổng thống là ông chủ nhà, lãnh đạo một gia đình có con, có cháu, có dâu, có rể...đủ thành phần "giai cấp".

Ông chủ nhà vui vẻ, phóng đạt thì sẽ cho "bọn bay", tức những người dưới quyền thoải mái..."ý kiến", không có vùng cấm. Ông sai chỗ nào chỉ ngay chỗ đó. Dân chủ như rứa, chớ cũng có đứa, thằng rể chẳng hạn, muốn ly dị vợ, hay bất mãn chi đó, phê phán quá đà, vu cáo ông già vợ những việc bậy bạ, dùng những lời lẽ xúc phạm ( giống như nói xấu lãnh đạo), làm bẽ mặt ông chủ, không ra thể thống chi cả, "muốn nói gì cũng được, muốn chửi ai cũng được". Nếu ông chủ tức quá, lấy quyền cha vợ, tán nó mấy bợp tai. Chẳng có chi đáng trách. Ổng là "cha" mà. Muốn làm chi thì làm.

Nhưng nếu ông chủ không đánh, chỉ mang ông rể ra xử, lập một "tòa án gia đình" (không phải tòa án nhân dân đâu nghe), mọi người phán xét, lấy con gái lại, không cho làm vợ nó nữa, nếu thấy phạm tội quá nặng, (bị con bồ nhí bí mật kích động, phá hoại gia đình nhà vợ). Nếu có tội, anh ta sẽ tâm phục, khẩu phục.

Xin kể thêm câu chuyện tôi đọc đâu đó trong Sử ký Tư Mã Thiên (thì phải). Một tướng rất giỏi, nhiều công trạng, được Tần Thủy Hoàng cho làm vương một nước nhỏ. Nghĩ mình công trạng tày trời, ông tự sắm một cỗ xe ngựa, cờ phướn giống như thiên tử, một điều có thể là phạm húy, mất đầu như chơi. Chuyện đến tai vua. Vì là đại thần sủng ái, Tần Thủy Hoàng không nỡ giết, chỉ răn đe nhắc nhở.
Vị tướng nghĩ, trong đám tùy tùng của mình có kẻ mật báo, bèn ra lệnh cắt lưỡi tất cả, mọi người vẫn được cho hầu hạ nhưng đều câm lặng, phòng sau này chúng không tâu lén lên vua, vì ông biết phạm lần nữa, mình sẽ mất đầu.

 Lo xa không xuể, có quan tỵ hiềm với ông, sàm tấu với vua vị tướng sắp làm phản. Vua đích thân đem quân đến bắt. Ngoài sân dinh, quân sắp tràn vô, vị tướng giật mình, không kịp cầm vũ khí, dẫn một vài tùy tùng chạy trốn. Tức giận ông nạt bọn chúng tại sao không báo trước ông biếbiết. Họ lặng lẽ chỉ vào miệng, ý nói chiếc lưỡi đã bị cắt.

 Trước khi chết, ông ta hối hận, nếu không cắt lưỡi tùy tùng, biết đâu có thể chạy thoát vì ông ta rất giỏi võ.  "Cái lưỡi" quan trọng như thế nên cụ Hồ mới nói: "Dân chủ là mở mồm cho dân nói" (trong mồm có lưỡi).

 Nhưng dân chủ không hẳn muốn nói gì, muốn làm gì cũng được. "Mọi người đều có quyền tự do miễn quyền tự do đó không xâm phạm quyền tự do của người khác" (Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln).

 

LẠI PHẬN ĐÀN BÀ

("Đau đớn thay phận đàn bà", Nguyễn Du)

“Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”.

Cụ Tú Xương thương cảm nói về nỗi cơ cực của vợ mình nhưng cũng là nói về nỗi cơ cực của người phụ nữ Việt Nam.

Sinh ra một bé gái có khi không phải niềm vui mà là nỗi thất vọng của những gia đình đang muốn có một đứa trai để nối dõi tông đường.

Phụ nữ đã gắn vào mình số phận bất bình đẳng khi cất tiếng khóc chào đời. Phong kiến ngàn năm đã hằn sâu trong đầu óc con người Á đông, phụ nữ chỉ là cái máy đẻ, một ô shin cần mẫn không tốn tiền thuê.

“Lại con gái, lại một vịt giời, ”. Chắc có người buồn bã pha bực tức thở ra khi đón một sinh linh nữ không mong muốn sắp bước vào đời.

Đức Khổng Tử học vấn uyên bác nhưng thật bất công, ông ta nhận xét: “phụ nhân nan hóa” (đàn bà khó giáo dục lắm). Ngài cũng bị cho là tác giả mấy câu phân biệt giới tính: "Bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại" (trong ba tội bất hiếu, không người nối dõi là lớn nhất). Hay “nhất nam viết hữu thập nữ viết vô” ( một trai kể là có mười gái kể như không. Câu này chắc mấy đồ nho bịa ra chưa hẳn của Khổng Tử).

Truyền thống thì như thế nhưng ngôn ngữ, một bộ phận văn hóa, đâu thua, trong vấn đề trọng nam khinh nữ. Chê ai hẹp hòi ích kỷ thì gọi “tính như…đàn bà”. Đi làm việc gì mà gặp thất bại thì la lối “sáng ra đã gặp đàn bà, xui quá”. "Phụ nữ đái không qua ngọn cỏ". Phụ nữ đến kỳ kinh nguyệt các cụ không cho lên nhà trên, nhất là cấm bước qua bàn thờ.

Đừng nói ở Á đông ảnh hưởng Nho giáo nghe. Hồi Giáo có biết Nho giáo là chi. Phụ nữ vừa rồi ở Ả rập Saudi mừng tí tửng, như thắng cá độ đá banh, khi được cho phép…lái xe hơi, sau mười năm tranh đấu với chính phủ trong khi thế giới có ai cấm phụ nữ lái xe đâu. Đó là chuyện nhỏ.

 Chuyện lớn hơn. Có nước còn cấm trẻ em gái đến trường. Ra đường phải che mặt, có giám hộ là đàn ông đi kèm. Không được mở tài khoản ngân hàng. Không được ra nước ngoài khi người giám hộ (cha, chồng) không cho phép. Ngoại tình (như không chồng, quan nghệ người có vợ) có nơi còn bị ném đá đến chết, trong khi đàn ông, luật pháp cho phép cưới tới ba bà vợ. Có chỗ (rất ít) khi đến tuổi nào đó, trẻ em nữ bị đè ra cắt tiểu âm thần (chỗ nhạy cảm nhất ở bộ phận sinh dục), có trường hợp tử vong do ra máu quá nhiều, được thực hiện bởi người thân không am hiểu y tế.

Thôi, đó là chuyện do con người chứ chuyện ông trời mới đáng nói. Trong Sáng thế ký (sách cựu ước) Kitô giáo, Chúa Trời nặn đất rồi hà hơi tạo một người Nam. Sống trong vườn địa đàng vẫn cảm thấy buồn bã. Ngài chợt nhớ ra “a, chàng Nam này cần phụ nữ rồi”. Ngài bèn rút một cái xương sườn của người đàn ông và làm nên người nữ. Một lần dạo chơi thấy cây táo sum suê những quả đỏ mọng (đã được dặn cấm hái) người Nữ nghe lời sa tăng xúi dục “ăn trái nầy sẽ thông thái như Chúa” bèn hái xuống mời người Nam. Lúc bị quở phạt, chàng Nam kia chỉ người nữ và nói “tại cổ xúi tôi”.

Đó, mới xuống thế đã “ép” người (nữ) quá đáng. Thuở hồng hoang đã bất công rồi, huống hồ chi đến nay. Nhưng có phải chỉ mỗi ăn táo đâu, người nữ còn một nhiệm vụ nặng nề, đó là sinh đẻ. “Mang nặng đẻ đau” chín tháng mười ngày chứ phải đâu vài hôm thì chẳng nói làm chi. Đàn ông phải chi được tạo hóa cho thêm chức năng mang bầu để họ cảm thông nỗi đau của người phụ nữ.

Ngay cả chuyện nhà, những việc đàn ông ai làm không được, phụ nữ cũng “giành” làm hết. Không thiếu cảnh ăn xong, bận dọn dẹp thì ông chồng đã tót lên sô pha, xỉa răng, phì phèo điếu thuốc, có ông không quên bảo vợ rót ly nước trà, vô tư reo hò “cùng World cup”.

Một điều xót xa khi một số phụ nữ nghĩ họ sinh ra là để đẻ, để nuôi con, để làm việc nhà, để phụng dưỡng chồng con. Tôi thỉnh thoảng tham gia rửa chén. Gặp chị bạn đến chơi. Chị bảo “chớ bà xã đâu mà anh phải rửa chén”.

“Phụ thuộc” dường như là “căn tính” của phụ nữ sao? Có người bảo phụ nữ bây giờ không như tôi nói như vậy đâu. Họ có nhiều tự do lắm. Tự do lắm là tự do thế nào? Các cô có dám ngồi nguyên một ngày để uống bia, hút thuốc tán gẫu không? Các cô có dám đến những nơi nhạy cảm để "ăn phở", vì đã ngán "cơm" quá không? Các cô có dám ban đêm đi sớm, về trễ như các ông bù khú bên ngoài, hay là phải thức đến khuya, thấp thỏm chờ cửa đợi chồng về, còn không dám gọi điện hỏi chừng xem ổng đã về hay ngã xe đâu đó, còn e sợ làm thế “sẽ mất mặt chồng”?

Có những chị can đảm, nhưng tôi cam đoan rất ít. Nghĩ đến con, đến gia đình, họ cam chịu tất cả.

Những ngày kỷ niệm tôi thấy chỉ dành cho phụ nữ chứ không dành cho nam giới. Tuyên dương bà mẹ Việt Nam anh hùng, không có ông cha anh hùng. Như thế là vinh danh phụ nữ ư? Đúng nhưng trong 365 ngày, các đấng mày râu tặng hoa cho các chị phụ nữ được mấy lần? Ngày phụ nữ rửa chén cho họ tôi thấy ý nghĩa hơn tặng hoa. Tôi không phủ nhận sự vinh danh phụ nữ nhưng muốn nói nói rằng vinh danh như vậy chưa đủ, chưa đáng sự hy sinh của họ cho gia đình, cho xã hội.

Ngay cả những chuyện tế nhị, người phụ nữ cũng thiệt thòi. Xưa, đàn ông thì “năm thê bảy thiếp” (ác nỗi, “gái chính chuyên chỉ có một chồng”) nhưng, nay, có còn vậy không? Tôi cho là có nhưng dưới hình thái tinh vi hơn. Không kể một số quan chức biến thái nhờ tham nhũng, có những cô bồ đẹp hơn hoa hậu, thậm chí còn cất nhắc lên chức, làm những chức vụ béo bở. Phần đông đàn ông “đàng hoàng” còn lại có dám chắc mình trọn đời… “chung thủy” hay không? Nam giới có bồ nhí vỡ lở ra, xã hội còn châm chước (thậm chí được khen đào hoa) chứ nữ giới ngoại tình bị bắt được, xã hội lên án còn hơn lên án bọn khủng bố IS.

Tôi không cổ xúy ngoại tình. Tôi chỉ nhấn mạnh khía cạnh phán xét xã hội về một người nữ và một người nam trong tình cảnh đó. Có công bằng không?
Có rất nhiều trại giáo dưỡng nhốt những cô gái hành hề bán dâm.Tai sao cả nước tôi không thấy nơi nào nhốt mấy người mua dâm? Xã hội đã đối xử hết sức là phân biệt giới tính.

Chuyện bên ngoài là thế, chuyện thầm kín (như là phần thưởng của tạo hóa ban cho con người, tình yêu xác thịt) cũng không khá hơn. Liệu chúng ta có bình đẳng giới tính ngay trong chuyện thầm kín đó không? Tôi e là không vì không phải tất cả đàn ông đều biết điều đó.

Có biết bao phụ nữ đã gọi đến radio trả lời chuyện thầm kín than vãn họ không được thỏa mãn chuyện chăn gối vì chồng chỉ lo cho xong phần mình còn phần kia, thây kệ . Tôi nghĩ không ít phụ nữ như vậy nhưng họ không dám nói ra vì nghĩ" chuyện đó" mà đòi hỏi là “tội lỗi". Nhảy lên giường ngủ như hổ đói, cắn xé con mồi, cho thỏa lòng ham hố, khát khao nhục dục, nhưng nếu hành động đó khởi đầu từ người vợ, chắc chắn trong đầu ông chồng xuất hiện câu “bà này điên rồi”.

Tôi muốn trao đổi với các bạn về vấn đề bình đẳng giới tính rốt ráo như thế để mong những đấng mày râu, ngoài những hoài bão vĩ đại như ngày nào đó sẽ sống trên một đất nước như Singapore, có những việc làm chỉ mong là nhỏ thôi, để thu hẹp khoảng cách bất bình đẳng nam nữ, giúp chúng ta cư xử yêu thương chân thật hơn với “phân nửa” cuộc đời mình.

Chừng nào khi sinh ra, trẻ con lấy họ mẹ, hoặc họ cha, tùy vợ chồng quyết định, nhà nước phải chấp nhận. Chừng nào đàn ông có thể sinh đẻ như đàn bà, cũng hành kinh mấy ngày một tháng. Chừng nào phụ nữ được đứng giữa đình mà làm chủ tế như bà Võ Tắc Thiên khi xưa bên Trung Hoa. Chừng nào biết rõ có bà Trời chứ không phải mỗi ông Trời. Chừng nào bà vợ đi xa, ông chồng ở nhà trông mong như trông mẹ đi chợ. Chừng nào người vợ đá được ông chồng té ngửa vì đã ôm sổ đỏ, xe hơi đi cá độ đá banh chứ không phải ngược lại. Chừng đó sẽ có chuyện bình đẳng nam nữ. Còn muôn đời thì không.

Nhưng nếu muốn giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng giới tính, phụ nữ nên không cưới chồng, không “dây” cái của nợ kia làm chi. Còn đã lỡ yêu thì nên xét kỹ mới lấy, không vớ phải một ông “gia trưởng bẩm sinh” sẽ “héo cả đời hoa”. Trong từ điển tiếng Việt sẽ có thêm từ “phận đàn ông” chớ không phải “phận đàn bà” như đầu bài viết, lúc đó phụ nữ sẽ hoàn toàn được giải phóng.



ĐỊCH, TA

Khái niệm địch ta không phải bây giờ mới có. Thuở khai thiên lập địa đã có rồi.
Con người xuất hiện có thuyết cho là được sống trong vườn địa đàng hạnh phúc. Bỗng có ông nội Sa Tăng (quỉ), cuộc sống rối rắm. Ác, thiện hiện ra. Địch, ta từ đó mà có.

Ở quê tôi thời Việt Minh, mấy ông địa chủ, phú nông (giai cấp bóc lột) bị đem ra đấu tố. Tuy không bị giết nhưng ruộng đất phải trưng thu, phát cho dân nghèo. Vì là vùng "tự do" (có chính quyền Việt Minh), mỗi lần bọn Tây đi càn, là mỗi lần có một đôi người trong làng bị tội, "tiếp tay bọn Pháp, bọn Việt gian bán nước", như đưa đò cho lính tây qua sông, bắt trộm mấy con gà, hay ăn cắp mấy ký gạo của dân. Khi Tây rút, những người này bị trừng trị "đích đáng". Có người "ác ôn" bị tòa án nhân dân xử tử.

Sau hiệp định Geneve 1954 , con cái những người địa chủ, những thân nhân của người "tiếp tay thực dân" tham gia chính quyền "quốc gia", bắt đầu trả thù những người trước đây kết tội, đấu tố hay giết chết cha mẹ thân nhân họ. Cuộc trả đũa khốc liệt, tuy không rộng khắp, nhưng đã khiến một số Việt Minh trước đây, có người bị bỏ bao bố thả sông, có người oan uất treo cổ tự vẫn.

Rồi 1975, đất nước chấm dứt chiến tranh. Những người " ngụy xưa" không bị giết chết nhưng sự phân biệt còn đớn đau hơn mất mạng sống. Cùng với những "ngụy quân, ngụy quyền" khác, họ bị đưa đi cải tạo trên rừng. Đời sống tinh thần bẩn chật, đời sống vật chất khó khăn. Họ bị nhìn như những người có tội với nhân dân.
Một số vượt biên ra nước ngoài, hình thành một tầng lớp, đa phần trong số họ, nhất là những người lớn tuổi tham gia chính quyền cũ, đều xem những người cộng sản như kẻ thù. Và những người cộng sản cũng xem họ bằng con mắt dè dặt, hồ nghi không khác.

Lúc nào đất nước cũng có "địch, ta", dường như không có "đồng bào". Ngay trên mạng ảo, mỗi ngày ngó vào, vô số những lời lẽ cay độc dành cho đối phương không phải là "ta".

Mấy chục năm hòa bình, mấy chục năm thống nhất, chúng ta vẫn còn chia rẽ bởi quan điểm địch, ta.

 

Có lẽ hơn 150 năm chia cắt và nội chiến thời Trịnh, Nguyễn; hơn 80 năm đô hộ Pháp, ba miền đất nước bọn thực dân âm mưu chia rẽ dân tộc; và mấy mươi năm Nam, Bắc đánh nhau, hận thù chồng chất đầy lịch sử, người Việt Nam không có đủ thời gian hòa giải, và đoàn kết hay sao?

Có học giả cho rằng người Việt không yêu nước, vì "yêu nước" phải "yêu người" trong nước, nên hễ có cơ hội là cầm giáo mác đâm nhau. Mẹ Việt Nam đau buồn không chỉ vì có con, người chết bên ta, người chết bên địch, mà đau buồn vì phải có những người con không biết thương yêu nhau vì cứ phân biệt “địch-ta”.

GIẾT NGƯỜI “MỘT CÁCH NHÂN ĐẠO”.


Hình ảnh bên dưới không phải là nhẫn giả mà là nhẫn thật, phát xít Đức thu nhặt từ những xác chết người Do Thái trong trại giam tập trung trong đệ nhị thế chiến từ các phòng hơi ngạt.

Nay, cách giết người được " cải thiện" "nhân đạo" hơn. Thay vì bằng súng, bằng búa, bằng cán cuốc, "tử tù" sẽ được chích thuốc độc, chết từ từ êm thấm, chẳng rên la.

Đọc tiểu sử Cao Bá Quát, tôi thấy chi tiết bây giờ mới biết, không rõ đúng sai. Ông dùng muội đèn để sửa bài thi cho sĩ tử, bị phát hiện. Tội, ban đầu nghị án phải chém, sau thấy ông học hành giỏi có tiếng, bèn gia ân cho chết toàn thây, nghị án xuống còn " thắt cổ"( dùng lụa). Sau thấy ông vì tiếc bài thi hay mà chữa, triều đình chuyển qua cách chức.

Cách đây vài năm, đọc tin thấy một phụ nữ một nước Hồi Giáo, 40 tuổi, rất xinh đẹp, phạm tội ngoại tình vì lấy một đàn ông có vợ. Chị chồng chết; con trai đầu kêu cứu cấp chính quyền địa phương xin giảm tội. Một tổ chức nhân quyền cũng tham gia thỉnh nguyện. Để tỏ lòng nhân đạo, thay vì bị ném đá đến chết, người phụ nữ kia được giảm nhẹ hình phạt, chỉ xử treo cổ.

Một số nước tư bản có lần phản ứng nước ta, đã xuất thịt bò sang nước họ, từ những con bò bị đập búa vào đầu một cách "dã man", họ lên án, mà không được chích điện chết trước mổ thịt, cho nó nhân đạo, như ở nước họ.

Bọn Đức quốc xã kể trên đã đi đầu trong việc giết người êm thấm đó chứ. Đúng là con người văn minh. Đã giết một con người, giết một sinh vật, cũng đòi hỏi văn minh, êm thấm, và nhân đạo nữa chớ.

Ghi chú: khoa học chứng minh súc vật chết nhẹ nhàng trước khi mổ thịt, chất độc do phản ứng trước cái chết dai dẳng, đau đớn, không tiết ra, không gây hại cho người ăn.