Tuesday, September 8, 2026

TRUNG MANG

Đây là “thị trấn” cách Đà Nẵng chưa tới 50 km, nằm ở vùng rừng núi phía Tây tỉnh Quảng Nam (cũ). Năm 1979, Trung Mang là nơi “cứu đói” cho công nhân viên chức Đà Nẵng nhờ ở đây đất đai màu mỡ thích hợp cho việc sản xuất hoa màu, cải thiện các bữa ăn có bo bo.

Ảnh: Một ngôi nhà ở Trung Mang.

Ở trên độ cao của dãy Trường Sơn, khí hậu tại Trung Mang na ná khí hậu Bà Nà. (Đứng đây tôi nhìn thấy các "lâu đài" của Bà Nà). Các nhà quy hoạch từ miền Bắc vào đã cho trồng chè trên các đồi núi có hình dáng không khác các đồi chè ở tỉnh Lâm Đồng (cũ)  và hiện nay, nông trường chè đã đổi chủ, nghe nói một người chuyên làm chè từ Bảo Lộc về đây đang đầu tư khai thác.

Ảnh: Đồi chè (trái) và đồi keo (phải).

Vùng núi đồi Trung Mang là khởi nguồn của con sông Vàng. Ngày xưa, nước con sông này chảy về xuôi,  chỗ hợp lưu với dòng sông Kôn chảy qua huyện Hiên (tức Đông Giang ngày nay) tạo thành hai màu nước trên cùng một dòng sông. Màu nước ngả vàng chảy phía bờ sông sâu, màu nước trong xanh chảy bên phía bãi cát cạn. Một số ít dân sống bên tả ngạn chỗ hợp lưu thường có da ruột bủng beo, người ta cho là “uống nước sông Vàng ruột to”. Thực sự là có bụi vàng lẫn trong nước nên người ta mới đặt tên Sông Vàng.

Thập niên 1980, phong trào đào đãi vàng rất là rầm rộ ở đầu nguồn sông Vàng. Những năm ấy, nước không còn vàng nửa dòng và vàng cả con sông. Nạn đào đãi vàng bát nháo làm con sông luôn luôn có màu vàng đục. Đến khi nhà nước can thiệp mạnh mẽ thì nạn đào đãi vàng chấm dứt. Con sông trở lại màu nước như xưa nhưng lượng nước ít lại, mùa hè lòng sông trơ đáy, các con sông vùng hạ lưu như sông Cái, sông Con, sông Vu Gia người ta có thể mặc quần đùi lội qua sông mà không ngấm nước vì sự xuất hiện của rất nhiều nhà máy thủy điện. Sông ít nước nhưng điện lại nhiều, cuộc sống nhờ điện có lẽ nhiều hơn nhờ sông.

Từ Đà Nẵng lên Trung Mang, du khách sẽ đi qua các điểm du lịch sinh thái Lái Thiêu, suối nước nóng núi Thần Tài. Không khí dọc đường đi mỗi giờ mỗi khác. Nếu là mùa hè, người ta sẽ cảm thấy dễ chịu, càng lên phía Trung Mang, khí hậu càng dịu lại, và đến lúc nào đó, không khí mát hẳn. Người nào nghĩ ra việc trồng chè ở Trung Mang thật đáng ghi nhận.

Từ xã Thượng Đức (mới), tôi chạy xe máy theo đường hướng lên khu du lịch sinh thái Cổng Trời. Còn chừng 2 km thì rẽ phải qua cầu Ba Nga. Đường đổ bê tông vừa cho một xe con chạy qua. Tôi đi xe máy qua nhiều nơi của đồi núi tỉnh Quảng Nam nhưng chưa bao giờ có cảm giác vừa sợ hãi vừa háo hức khi đi trên con đường dẫn đến Trung Mang.

Hơn hai giờ “trèo đèo”, tôi mới đến ngã ba giáp quốc lộ từ Đà Nẵng chạy lên Đông Giang (cũ), từ đây người ta có thể dễ dàng đi Lào băng qua “đường mòn” Hồ Chí Minh. Nếu xe hết xăng hay xẹp lốp, quý vị nên đạp một phát cho nó rơi xuống những hẻm núi thăm thẳm bên dưới. Không nên dắt bộ về. Giữa núi rừng mông quạnh, không một bóng người, cũng chẳng có lấy một ngôi nhà (trừ đoạn đường chuẩn bị đi vào quốc lộ, gọi là xã Sông Kôn). Con người như nhỏ bé trước thiên nhiên vắng lặng, bạt ngàn, chỉ có tiếng gió rì rào bên tai.

Nhưng cảm giác sợ hãi trong rừng sâu giảm đi rồi mất hẳn khi chứng kiến những đồi núi reo rẻo cao, trùng điệp nối đuôi nhau, toàn là rừng keo nối rừng keo, xanh mướt. Rừng keo thật ra không phải là rừng thật sự. Keo là loại cây cho nguyên liệu làm giấy. Tôi ngạc nhiên tại sao  những nơi hẻo lánh, cao ngút ngàn này, vẫn xuất hiện cây keo? Vòng đời của keo (tên là Tai Tượng)  khá ngắn, đất tốt thì 3 năm, đất ít tốt hơn thì 4 năm. Khi thu hoạch, người ta đốn sạch, cắt thành những đoạn ngắn vừa chở đối với xe tải. Keo được lột vỏ, bán theo trọng lượng. Giá hiện nay là 1900 đồng/kg. Không rõ một xe tải chở được bao nhiêu tấn cây keo. Keo nuôi sống không những cho nhà máy giấy (nghe nói chủ yếu xuất khẩu), cho chủ rừng, mà cho lao động cắt vác cây, lột vỏ, chất lên xe cho chủ.

Để có lứa keo khác, rừng thu hoach xong, cành nhánh, lá (rất nhiều) được đốt cháy. Rừng keo giáp nhau hoặc giáp với rừng tự nhiên (nhà nước quản lý rất chặt chẽ, ai phá trồng keo có nguy cơ đi tù) khi đốt đều có dọn đường ranh ngăn lửa. Nghề nào nghiệp đó. Tôi có biết một đôi người chết vì đốt rừng keo do lửa đổi chiều cháy, khói phủ, không khí không còn để thở. Rồi những chiếc xe “cải tiến”, xe tải, “leo” theo đường mòn,  lên những rừng keo, có nơi cao chót vót, để chở lấy cây và không hiếm tai nạn thương tâm đã xảy ra. Ăn của rừng rưng rưng nước mắt, dẫu đó là rừng keo.

Có cây keo là có dấu vết con người. Tôi và một cụ già 90 tuổi, người từng có thời tuổi trẻ gắn liền núi rừng trong chiến tranh, cảm thấy an tâm khi thấy rừng núi bạt ngàn cây keo. Giữa rừng núi trùng trùng vắng lặng nhưng sự xuất hiện của cây keo báo hiệu cho sự có mặt của con người, dù cả chuyến đi (và về) trên 4 tiếng đồng hồ trong rừng tôi chỉ gặp một hay hai người dân tộc chạy xe máy ngược chiều. Họ chạy như tên bắn vì quen thuộc đường. Tôi và cụ già phải nép xe sát lề cho tên lửa vút qua.

Đi Trung Mang đối với tôi là một ký ức. Vừa đi vừa về bằng hai con đường khác nhau, tôi bỗng nảy lòng kính phục những người trước đây trong chiến tranh từng sống, từng đi lại, rất nhiều nơi,  giữa núi non bạt ngàn cây rừng và thú dữ, bằng hai đôi chân, một cây súng, và có thể là gói cơm vắt, hay củ khoai củ mì lót dạ. Và một trong người đó là “cụ già” ngồi sau xe máy của tôi. Tôi thì muốn tìm lại quá khứ qua bài vè; ông tìm quá khứ - hay đúng ra, tuổi thanh xuân- qua chuyến đi Trung Mang nơi ông từng gắn bó trong những tháng ngày đạn bom ác liệt. Trung Mang của ông không giống Trung Mang của tôi.

Một người nông dân không biết chữ nhưng làm thơ và làm vè rất trôi chảy. Bài vè ấy cha tôi đọc và tôi còn nhớ:

Lẳng lặng mà nghe

Cái vè Nhựt bổn

Nó qua làm rộn

Phòng thủ Đông Dương

Nó mượn nhà thương

Học trường cũng ở

Bảo nhà phải dỡ

Lập trảng máy bay

Kế độc mưu cay

Càng ngày càng quá

Người Tây thủ hạ (cúi đầu)

Nhựt Bổn đè đầu

Ở đặng ít lâu

Lại thâu khí giới

Đồn nào cũng tới

Bắt sạch người Tây

Xiềng  xích với dây

Xâu đầu lại hết

Đứa nào sợ chết

Thì lết ra xe

Đứa nào không nghe

Xách đầu nó thổ (dộng xuống đất)

Thân hình cực khổ

Quần áo xơ xài

Râu tốt tóc dài

Chưn giò chảy máu

Quan năm quan sáu (trung tá, đại tá)

Thấy cũng thất kinh

Ăn hiếp dân mình

Nhựt không dám nói

Tây thời nhịn đói

Nhựt lại ăn no

Đi đâu chẳng cho

Bắt ngồi một chỗ

Từ tuốt (tận) TRUNG MANG

Ăn khoai với sắn

Xương bọc lấy da

Đói khát kéo ra

Đồn Hiên mà ở

Đồn Hiên và Trung Mang đối với tôi là địa danh lịch sử của vùng rừng núi Tây Quảng Nam. Tôi qua Đồn Hiên rồi. Nay đến Trung Mang.

Khi ra về, tôi cảm thấy bùi ngùi. Tại sao vùng rừng núi Trung Mang, đầu nguồn Sông Vàng, ngày xưa Tây từng khai thác vàng, có khí hậu gần như Bảo Lộc, người ta không tiếp tục phát triển những đồi chè mà lại là những đồi keo? Một loại rừng “phá” rừng.

Ảnh: Đốt rừng để trồng keo.

Nhìn những đồi núi cháy đen (không phải cháy nham nhở), từ trên cao ở Trung Mang đến những dãy đồi sát đồng bằng trên con đường đi về, tôi không biết nên vui (dân sống nhờ trồng keo) hay nên buồn (phải chi rừng chè chiếm chỗ của rừng keo)?