Wednesday, July 22, 2026

KHAI PHÓNG

Lúc còn là học sinh chuẩn bị thi tú tài 1 (lớp 11 bây giờ), tôi không hình dung mình đang học tập ở trong môi trường giáo dục, về già, tôi mới tìm hiểu, là DÂN TỘC, NHÂN BẢN và KHAI PHÓNG.

Hơn nửa thế kỷ sau, khi đất nước ở vào thế kỷ vươn mình, tôi mới nghe đến hai từ KHAI PHÓNG. Nó không “hiền hòa” như trước mà rất “dữ dằn”. Không dữ dằn sao được khi một vị chức sắc cấp cao phát biểu có từ khai phóng; thời gian ngắn hai từ ấy sợ quá "lặn"  mất tăm. Một ngôi trường đại học bề thế cũng “phụ rãy” hai từ ấy khỏi sự định đặt  cho một lối học khai phóng. Tất nhiên, một cái tượng dựng lên có tên khai phóng trở thành tượng đập, tượng dỡ. Khai phóng trở thành hai từ nguy hiểm.

Học sinh chúng tôi thời giáo dục VNCH không hề nghe tuyên truyền về nền giáo dục có tính dân tộc, nhân bản, và khai phóng. Nhưng giờ đây, tôi mới biết, học sinh thời ấy đã "thấm nhuần" qua chương trình học hướng về:

-Dân tộc (ví dụ về lịch sử): Vua Gia Long và hoàng đế Quang Trung đều được học sinh quý trọng ngang nhau. Không vì  (bị quy tội) “rước voi về giày mả tổ” mà chúng tôi coi thường vị vua có công thống nhất đất nước. Tôi nhớ có bài giảng hồi tiểu học nói về Nguyễn Ánh, tiêu đề “Vua Gia Long thống nhất sơn hà” và hình ảnh của ông. Dù không đội trời chung với Nguyễn Ánh, chúng tôi vẫn học và vẫn rất tự hào về chiến công hiển hách của vua Quang Trung Nguyễn Huệ, đánh tan quân nhà Thanh xâm lược.

Chúng tôi biết Gia Long đào mộ Quang Trung lên, lấy đầu lâu cho quân tiểu vào, nhằm trả thù cho nỗi đau cả gia tộc bị sát hại ngày xưa. Chúng tôi nghe kể vua Quang Trung khi ở Phú Xuân cũng cho người đào mộ  các chúa Nguyễn, đổ hài cốt xuống sông Hương. Hận thù giữa hai vì vua không làm cho học sinh yêu vị này phải ghét vị kia và ngược lại. Trong giáo dục, chúng tôi được học cả hai đều có công trạng to lớn đối với nước nhà. Không vì yêu ghét mà kẻ trọng người khinh đối với các nhân vật lịch sử. Đó không phải tinh thần dân tộc thì là tinh thần gì?

-Nhân bản: Dù không được dạy thế nào là nhân bản nhưng cách đối xử con người với nhau, tôi thấy tính nhân bản hiện ra rõ nét. Nhiều cán binh cộng sản bị thương đều được chăm sóc tử tế ở bất kỳ nhà thương (bệnh viện) nào, tất nhiên có người canh giữ, hoặc còn tay chân thì phải xích vào giường nằm.

Trong lớp tôi, năm bảy đứa có cha hay anh “theo Việt Cộng”. Họ không bị phân biệt đối xử. Bạn tôi có cha đi tập kết vẫn thi đậu vào trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, nơi đào tạo ra các sĩ quan hiện dịch, nghĩa là phục vụ trọn đời trong quân đội, có thể lên tướng.

Cả những người hoạt động cộng sản bị bắt nhốt tù như luật sư Lê Hiếu Đằng vẫn được cai tù dẫn đến trường để thi tú tài vì ông có nộp đơn thi trước khi bị bắt. Tú tài thời ấy là tấm bằng giá trị giúp một người trưởng thành có thể bước vào đời một cách tự tin.

Bây giờ, qua khỏi ngưỡng 70,  tôi mới nghiệm ra những việc trên chính là bài học “nhân bản”, đầy tình người.

-Khai phóng: Bây giờ người ta lại sợ…khai phóng, cứ tưởng nó “ghê quá”. Trái lại, khi đi học, tôi thấy KHAI PHÓNG rất đáng yêu.

Ở chương trình tú tài II (lớp 12 bây giờ), có dạy môn triết. Nghe oai thế nhưng triết ở đây chia ra làm 4 môn học: Tâm lý học, luận lý học, đạo đức học, và siêu hình học. Ngoại trừ ban C (Văn-Ngoại ngữ) phải học sâu hơn, sách dày hơn, các ban khác như A (Vạn vật) hay B (Toán-Lý Hóa) đều học nhưng nội dung ít hơn, tất nhiên hệ số cũng nhỏ hơn. Hệ số (tối đa gấp 4 lần) là số nhân lên cho điểm số các môn chính. Học sinh giỏi môn chính thì khả năng đậu tú tài cao hơn. Học gì thi nấy-tất cả các môn, không như bây giờ chỉ thi những môn chính.

Một vài ví dụ cho môn Tâm lý học. Thời gian khác kỳ gian. 24 giờ một ngày là thời gian. Chờ người yêu, thời gian như kéo dài ra, gọi là kỳ gian. “Một ngày không gặp như là ba thu” (ca dao). Một ngày là thời gian; ba thu (ba năm) là kỳ gian.

Một câu chuyện khác: Hai thầy tu trẻ đang chuẩn bị xắn quần lội qua con suối lớn thì thấy một cô gái xinh đẹp cũng đang đứng bên bờ, lưỡng lự vì nước khá sâu. Một vị thầy đi lại, khom người trước cô gái và bảo cô nhảy lên lưng để thầy cõng qua suối. Ngần ngừ một lúc, cô gái liền ôm lưng thầy chùa. Cuối ngày, gần bước vào cổng chùa, bạn đồng hành bèn lên tiếng “thầy là người tu hành, tại sao lại tiếp xúc với phụ nữ, không sợ phạm giới ư”?’. Vị thầy chùa kia đáp “Tôi cõng và đã bỏ cô gái ấy bên kia bờ suối rồi, sao thầy còn “mang” về tận đây”.

Về luận lý học, có một ví dụ nhiều người bây giờ gọi là tam đoạn luận: Mọi người ai cũng chết. Socrate là người. Socrate cũng phải chết.

Bước vào tuổi 18, hành trang vào đời của học sinh chúng tôi có khi là những mẩu chuyện kể như thế. Sinh viên bây giờ, tất cả  có học những môn “triết” như học sinh chúng tôi ngày xưa?

Chưa tới 20 năm, nền giáo dục VNCH không tránh khỏi khiếm khuyết nhưng chủ trương dân tộc, nhân bản, và khai phóng  đáng cho chúng ta suy nghĩ. Khai phóng sẽ là hai từ cần thiết cho đất nước muốn vươn mình.

Wednesday, July 1, 2026

KHAI PHÓNG, NGUY HIỂM QUÁ?

KHAI PHÓNG

(Tâm tư của Cô Lê Bình, giáo viên Văn sau đêm trắng)

“Khai” khi chúng nó mở ra

“Phóng” là bắn mạnh xoà xoà từ trên

Vội vàng tay kéo xéc lên

Amoniac vang rền mùi khai.

….

“Khai” chi một lũ dạy đời

“Phóng” vào lịch sử những lời vô ơn

Giữ gìn bản sắc vẫn hơn

Văn hóa mà mất, Nước còn nổi không?

(Đêm trắng 20/6/2026)

Có một facebooker tên Nguyen Quang Thieu (không phải Nguyễn Quang Thiều, nhà thơ) viết: “Toàn thể Nhân Dân Việt Nam hãy đoàn kết, quyết tâm tẩy chay KHAI PHÓNG  đối với Văn hóa Việt Nam và Giáo dục Việt Nam”. (Chép đúng nguyên văn).

Không hiểu KHAI PHÓNG có phải là tư tưởng của một tổ chức phản động, nhân dân cần phải “tẩy chay”? Và KHAI PHÓNG có phải là nước tiểu hôi hám và bẩn thỉu?  (“Amoniac vang rền mùi khai”).

Với tôi, dân tộc ta muốn “sánh vai với cường quốc năm châu” (1), đất nước cần phải trân quý KHAI PHÓNG.

Nhưng KHAI PHÓNG là gì?

Định nghĩa có nhiều, nhưng theo tôi, khai phóng (hiểu như ngày nay) là tôn trọng sự khác biệt, không bị ràng buộc vì định kiến, luôn luôn học hỏi, sẵn sàng thay đổi khi có bằng chứng mới, và tư duy độc lập nhưng không cực đoan.

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đặt Khai Phóng làm “triết lý” giáo dục (Dân tộc- Nhân bản- Khai phóng).

Khai phóng không phải là sản phẩm tư tưởng “lai căng” du nhập từ nước ngoài.

Tinh thần ( và tư tưởng) khai phóng xuất hiện rất sớm trong lịch sử nước nhà.

Vua Trần Nhân Tông cho đốt danh sách, không bắt tội,  những người đầu hàng, câu kết với giặc sau khi kết thúc cuộc kháng chiến. Lẽ thông thường, những đối tượng ấy cần bị trừng trị để làm gương nhưng vị Phật hoàng ấy: Không muốn khơi lại hận thù sau chiến tranh. Tránh chia rẽ trong triều đình và trong nhân dân. Tạo điều kiện để những người từng lầm đường có cơ hội sửa đổi và cùng xây dựng đất nước.

Ở thế kỷ thứ 13 mà tư tưởng ấy vượt ra ngoài “phép nước”. Đó không phải là tinh thần khai phóng hay sao?

Chu Văn An là một ví dụ cho tinh thần khai phóng. Ông luôn luôn chính trực, dám nói lên điều đúng, lấy đạo đức làm gốc trong giáo dục, có trách nhiệm của người trí thức đối với đất nước, không khuất phục trước quyền lực.

(Theo wikipedia) "ông  là người thầy của mọi thời đại, nhà giáo lỗi lạc của Việt Nam, đã dành cả cuộc đời cho sự nghiệp dạy học, với triết lý giáo dục nhân văn, không phân biệt giàu nghèo, học đi đôi với thực hành, học suốt đời để biết, để làm việc và cống hiến cho xã hội. Tư tưởng đó của ông không những có ảnh hưởng tới nhiều thế hệ người Việt Nam mà còn góp phần phát triển các giá trị nhân văn trong khu vực. Quan điểm giáo dục của ông có những giá trị tiến bộ vượt thời đại, gần gũi với mục đích giáo dục của thế giới hiện nay".

Triều nhà Nguyễn có thể không bị mất đất cho thực dân Pháp nếu cả triều đình Tự Đức nghe theo biểu tấu của Nguyễn Trường Tộ để canh tân đất nước. Trong suy nghĩ thông thường của những nhà Nho trí thức thời phong kiến, Trung Hoa là số một. Các thám hoa, bảng nhãn, tiến sĩ trong hàng ngũ quan lại (tôi chắc có người không biết bảng cửu chương) coi những điều trần của Nguyễn Trường Tộ là “lố bịch”, viển vông. Những đề nghị “khai phóng” của ông bị bỏ mặc: Tổ chức bộ máy nhà nước; phát triển kinh tế (chú trọng thương mại và công nghiệp); cải tổ quân đội, chế tạo vũ khí hiện đại; đổi mới giáo dục (chú trọng khoa học và kỹ thuật); mở rộng quan hệ với các nước để học hỏi tiến bộ.

Nhật Bản cùng hoàn cảnh như Việt Nam thời đó – coi Trung Hoa là thiên triều- nhưng nhờ có tư tưởng khai phóng, họ trở thành một nước phát triển: bởi sớm thoát Trung. Dù bị tan nát sau chiến tranh, chỉ cần hơn hai chục năm, họ có nền kinh tế mạnh thứ hai trên thế giới sau năm bại trận (1945). Nếu không có tinh thần khai phóng, chấp nhận đầu hàng nhục nhã trước kẻ thù, để một “tên mũi lõ” Douglas MacArthur “cai trị” nước mình một thời gian, dân Nhật chắc chắn phải cầm súng chiến đấu chống quân xâm lược Mỹ đến người Nhật cuối cùng.

Và ở Việt Nam, thời đại  Hồ Chí Minh. Nước Pháp sẽ không đánh nhau với nước Việt trong khoảng mười năm khói lửa. Người Mỹ sẽ không bỏ hơn năm mươi tám ngàn sinh mạng trên chiến trường Việt Nam và người Việt Nam cũng không mất đi hàng mấy triệu người vì phải đánh nhau với họ…

Nếu…

Sau ngày tuyên bố độc lập năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã không gởi công hàm (hoặc có mà tôi không biết) đến Cộng hòa Liên Bang Xô Viết (cái nôi đào tạo các vị cách mạng tiền bối cộng sản VN) để xin công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cụ lại gởi nhiều (tám) bức thư cho tổng thống Harry S. Truman của nước Mỹ để yêu cầu nền độc lập của nước mình được công nhận.