Thật sự con cò mới đúng tên. Nhưng khi bay, cò sải cánh, hình ảnh đẹp, không khác hải âu, nên người ta hay gọi cánh cò. Cánh cò gắn liền người nông dân. Ở thành phố hay đô thị nếu không có ruộng đồng bao quanh, chắc chắn chẳng ai thấy cánh cò.
Tôi may mắn đi một số nước tiên tiến châu Âu: Đức, Ý, Pháp, Thụy Điển, Phần Lan...Tuyệt nhiên, tôi không hề thấy cò chứ đừng nói cánh cò. Quạ châu Âu tôi có thấy. Nó có màu nâu và xám bạc không đen tuyền như quạ Việt Nam dù tiếng kêu rất giống nhau. Ở Bá Linh hay Rô Ma tôi không có dịp ra đồng quê nhưng ở Pa ri s tôi có dịp ra khỏi đô thành tráng lệ để chiêm ngắm những cánh đồng lúa mì xanh ngút, bao la. Và điều kỳ lạ, ở nông thôn vùng họa sĩ Monet sinh sống, khung cảnh hữu tình, cây xanh bát ngát, tôi chẳng thấy lấy bóng dáng một cánh cò.
Hay cò gắn liền với sự cơ khổ, nghèo khó, cam go? Nên chúng không xuất hiện ở những nước giàu có? Ở Việt Nam, cò gắn liền với đời sống cam khổ của người nông dân. Thân phận cò đi vào ca dao hay ca dao ghi nhận thân phận cò? “Con cò lặn lội bờ sông, Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non” (Nguyễn Công Trứ). Ngay cả Tú Xương một người đàn ông ích kỷ ăn chơi vẫn cảm thương người vợ “ Quanh năm buôn bán ở mom sông. Nuôi đủ năm con với một chồng. Lặn lội thân cò khi quãng vắng. Eo sèo mặt nước buổi đò đông”. Cò còn thua thiệt rất nhiều trong cuộc sống. “Con cò mà đi ăn đêm. Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao. Ông ơi ông vớt tôi nao. Tôi có lòng nào ông cứ xáo măng. Có xáo thì xáo nước trong. Đừng xáo nước đục đau lòng cò con” (Ca dao).
“Đậu phải cành mềm” nghe mà đau xót. Cành mềm là sự rủi ro trong cuộc sống. Cành nào mà cò có thể “lộn cổ”; chỉ có cành mưu mô xảo quyệt, “lạt mềm buộc chặt”. Cò mới sụp mưu. Nhưng lời khẩn nài “Có xáo thì xáo nước trong. Đừng xáo nước đục đau lòng cò con” nghe sao mà thảm thiết. Cò đang bụng mang dạ chửa. Một bà mẹ sắp sinh mà “đậu phải cành mềm”. Xót xa. Quặn thắt..
Cò hay người? Cò mẹ hay người mẹ? Mẹ dù là cò hay người cũng là mẹ: Cưu mang mọi nỗi khổ trần gian.
Tôi chưa đi Trung Hoa- nước “đồng văn đồng chủng” - nhưng tôi chắc chắn cánh cò gắn bó với cuộc sống người Việt Nam chúng ta nhiều hơn gắn bó cuộc sống của người Trung Quốc.
Trong các bức họa cổ, tôi thấy các tác giả Trung Hoa vẽ các loại chim nhưng ít thấy cò, cánh cò. Ở Việt Nam cũng rất ít có tranh vẽ cò. Tôi không hiểu vì sao. Nếu có thì chỉ là những cánh cò xa vắng, nhỏ nhoi, lác đác, điểm xuyết cho khung cảnh nên thơ khác. Tôi không thấy có bức tranh vẽ cò nào nhìn dáng vẻ là thấy gầy còm kham khổ hanh hao.
Họa sĩ chúng ta ít chú trọng cò từ cổ chí kim. Bởi cò gắn với người nông dân mà không cùng sống với người thành thị- họa sĩ đa phần xuất thân từ chốn phồn hoa.
Không vẽ được cái cơ khổ của thân cò nhưng người nông dân – cụ thể là người nông dân quê tôi (Thường Đức, phía cực Tây Quảng Nam) không bao giờ coi rẻ con cò- cánh cò. Từ thuở xa xưa khi cha tôi năm ba tuổi (nếu còn sống ông sẽ là trên 120 tuổi) không hề nhắc đến có ai ăn thịt cò. Thịt cò rất “khét” (rất khó ăn). Đó là nhận định của người thôn quê chúng tôi. Khi tôi còn nhỏ, thập niên 1950, cò sinh sống rất nhiều, có thể nói là đầy đồng. Chúng làm tổ ở những cánh đồng lác (một loại cây cỏ cao thân dùng làm cói đan giỏ, đệm nằm...). Trẻ con có thể bắt dồng dộc con, chim sẻ con, nhồng con, cưỡng con... để nuôi nhưng không hề bắt cò con về làm vật cảnh. Có lẽ cò có mỏ dài và nhọn, rất nguy hiểm khi mổ. Có người bắt cò lửa (màu vàng đỏ) về nuôi để chúng có thể bắt cá cho người. Và cũng có người bị chúng mổ vào mắt. Trở nên mù, vì cò nhầm tưởng đó là cá.
Khi cò không phải là thức ăn- nói trắng ra mồi nhậu- thì dân số của chúng phát triển có thể nói là đầy ắp những cánh đồng.
Tôi có nghe nói nhiều nơi ở đâu đó, người ta làm bẫy bắt cò, bằng cách làm những con cò giả y như thật. Cò thấy bầy bèn đáp xuống thế là dính bẫy. Chắc chắn cò sẽ không được đem về nuôi. Chúng sẽ là mồi nhậu- món đặc sản.
Tôi chưa đi khắp thế giới nhưng những nước tôi có tới, chim – không kể chi cò- là phần cuộc sống của họ. Chim không hề là thức ăn, chưa nói là mồi nhậu. Thấy những con chim sẻ như chim sẻ Tàu vẽ trong tranh, rất đẹp, bay đến hiên nhà con gái tìm thức ăn, tôi bèn lấy một ít gạo rải trong các chậu trồng hoa chỉ trơ đất mùa đông. Chim tíu tít bay đến, ngày càng nhiều. Qua cửa kính, tôi thấy chúng rất dạn dĩ. Người có lẽ không là đe dọa cho chim? Chúng vẫn ăn khi tôi đẩy cửa rải thêm cho chúng một ít gạo.
Tôi kể chuyện cho chim ăn với cháu nội, học lớp 4, lòng hãnh diện là “ông” đã cho chim trời ăn. Cháu tôi tròn mắt nhìn “Ồ, ông nội không được cho chim ăn thức ăn không phải dành cho chim trời”. Vì sao? Tôi hỏi. Cháu rỗi rãi giải thích: Ở trường, cô giáo dặn dò chúng con không được cho chim trời ăn ngoài thức ăn bán trong siêu thị. Chim có thể tiêu chảy hoặc nhiễm bệnh nếu ăn phải những thức ăn thừa của người.
Tôi nghĩ mà thương cho những con chim xứ mình. Ngày xưa, có thể chim sẻ đến ăn trên những nong lúa phơi ngoài trời và người ta không buồn đuổi chúng vì lúa chúng ăn không đáng kể bằng số lúa người dân thu về. Cảnh chim sẻ ăn lúa chỉ có trong dĩ vãng lúc tôi còn năm sáu tuổi- hơn 60 năm trước.
Không nói ai cũng hiểu, sau chiến tranh hủy diệt bởi đạn bom của người Mỹ, người Tàu, người Nga, cuộc sống người dân trải qua những tháng ngày cơ khổ vì “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”, thân người còn rẻ rúng huống gì thân cò, phận cò, cánh cò vốn đã khổ trong ca dao trong cuộc sống người nông dân.
Khi chim- ở đây là cò- không còn là mồi nhậu, không còn là thức ăn vô ý thức của con người không ý thức thì cuộc sống con người trở nên ý nghĩa. Đó là khi về quê những tháng ngày này, quý vị nhìn thấy những đàn cò, không phải những con cò, bay lượn trên những cánh đồng xanh mướt. Gió thoảng đưa hơi lạnh mưa phùn cuối đông, những cánh đồng xanh rợn sóng lúa non, điểm những cánh cò trắng phau đem lại hình ảnh nên thơ mấy chục năm trước còn in đậm trong ký ức non trẻ cho đến ngày nay.
Cánh cò mang lại cái tươi tắn cho một vùng quê từng héo hắt bởi chiến tranh - Thường Đức quê tôi.
Cò và người nông dân.








